vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Như N và anh Phạm HA.

Về con chung: 1. Giao con chung tên là Phạm Minh Tr – Sinh ngày 23/11/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Như N và anh Phạm HA.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC
TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/12/2022

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC - THANH HOÁ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Tường Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Tư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy -.Chức vụ: KSV

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2022, về việc:“ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXX - ST ngày 01 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1 - Nguyên đơn: Chị Đinh Như N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn B X, xã V P, huyện V L, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

2- Bị đơn: Anh Phạm HA, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn B X, xã V P, huyện VL, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”đề ngày 01/8/2022, nguyên đơn là chị Đinh Như N trình bày: Chị Đinh Như N và anh Phạm HA kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08 tháng 3 năm 2019. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nên thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 02/2021. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 07/2022 đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình đã thực sự tan vỡ không thể hàn gắn được nữa, vì vậy chị N đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Phạm HA.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Minh Tr, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2021. Chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh HA đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 5.000.000đồng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị N yêu cầu anh HA đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng), cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung và công nợ chung nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm HA đã được nhận thông báo thụ lý vụ án nhưng anh HA không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với các yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Anh HA cũng đã nhận được thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng anh HA cố tình không đến làm việc tại Tòa án.

Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh HA nhưng tại phiên tòa ngày 18/11/2022 anh HA vắng mặt. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh HA vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa:

- Về Tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách đương sự, vụ án giải quyết đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Đinh Như N được ly hôn anh Phạm HA.

+ Về con chung: Giao con chung là Phạm Minh Trí– Sinh ngày 23/11/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh HA đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh HA được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

+ Về án phí: Chị N phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh HA phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về Tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đinh Như N có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với anh Phạm HA có hộ khẩu thường trú tại xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Anh Phạm HA đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Đinh Như N và anh Phạm HA kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08 tháng 3 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không phù hợp nên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Chị N, anh HA đã sống ly thân từ tháng 07/2022 đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình đã thực sự tan vỡ không thể hàn gắn được nữa, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh HA.

Xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh HA đến nay đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy xử cho chị N được ly hôn anh HA là phù hợp với quy định tại điều 56 luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Minh Tr – Sinh ngày 23/11/2021. Khi ly hôn chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Chị N yêu cầu anh HA đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng), cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Thấy rằng: Con chung hiện tại đang được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Con chung đang ở độ tuổi dưới 36 tháng tuổi. Chị N hiện tại đang có việc làm và thu nhập ổn định, vì vậy giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của điều 81 luật Hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị N yêu cầu anh HA cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa chị N xét thấy anh HA có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên yêu cầu anh HA cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 2.000.000đồng.

Xét thấy: Việc cấp dưỡng nuôi con chung là nghĩa vụ của bố(mẹ) không trực tiếp nuôi con để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và học tập của con chung. Chị N yêu cầu anh HA đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.Vì vậy giao anh HA có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng là 2.000.000 đồng, cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Anh HA được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở theo quy định tại điều 82 luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5] Về án phí: Chị N phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh HA phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Như N và anh Phạm HA.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung tên là Phạm Minh Tr – Sinh ngày 23/11/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Anh Phạm HA có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đinh Như N mỗi tháng 2.000.000đồng( Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

2.3. Anh Phạm HA được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đinh Như N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004743 ngày 02 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.(Chị N đã nộp đủ số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm).

Anh Phạm HA phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Chị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh HA được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ