vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr được ly hôn bị đơn Nguyễn Ngọc Th. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị bảo Tr xin ly hôn với Nguyễn Ngọc Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG HINH
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16/9/2022
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên

Các hội thẩm nhân dân: Ông Ksor Y Thư và bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy - Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06/6/2022 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2022 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Bảo Tr (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Nguyên đơn và anh Nguyễn Ngọc Th (viết tắt là bị đơn) tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 05/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Giang, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Thời gian chung sống với nhau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bị đơn không lo làm ăn mà ăn chơi, cờ bạc, nguyên đơn khuyên giải nhiều lần nhưng không nghe; đến tháng 6/2020 thì vợ chồng sống ly thân đến nay, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy vợ chồng đã ly thân lâu, không còn tình cảm với nhau, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015. Từ trước đến nay bị đơn không chăm lo cho gia đình và con cái mà do nguyên đơn tự chăm sóc con và con có nguyên vọng ở với mẹ nên khi ly hôn nguyên đơn có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án lập biên bản hòa giải không được và đưa vụ án ra xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, con chung, tài sản chung; bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: không yêu cầu. Về tài sản chung: Không có. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn Giang, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36 quyển 01/2014, ngày 05/9/2014 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hai bên đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng bị đơn không đến và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và cho rằng bị đơn không lo làm ăn, mà hay chơi cờ bạc, bị đơn đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được, hiện nay vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2020 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 11/8/2022 mẹ ruột của bị đơn xác nhận khi Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập về cho bị đơn thì bà có ký nhận và đều báo lại cho bị đơn biết và bị đơn thỉnh thoảng cũng có về nhà; việc hôn nhân giữa hai vợ chồng thì bà cũng có nghe cả hai bên nói với bà là vợ chồng sẽ ly hôn vì nguyên đơn cho rằng bị đơn hay chơi bài bạc, bị đơn cũng thống nhất ly hôn; thực tế hai vợ chồng đã sống ly thân hơn 1 năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy hiện vợ chồng đã ly thân được hơn 1 năm, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau, mặc dù bị đơn không có ý kiến trình bày đối yêu cầu của nguyên đơn nhưng có nói với mẹ ruột là thống nhất ly hôn. Do đó, xét quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung:

Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015, hiện cháu L đang sống chung với nguyên đơn và có nguyện vọng sống với mẹ; nguyên đơn cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr được ly hôn bị đơn Nguyễn Ngọc Th.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo L, sinh ngày 03/5/2015 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Bị đơn Nguyễn Ngọc Th có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Tr phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001170 ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ((mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ