vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn C.

[2] Về con chung: Giao con chung tên là Vi Thị M, sinh ngày 13/5/2016 cho chị Lô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 12/2022 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 22/12/2022
V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và ông Cầm Bá Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 104/2022/TLST–HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lô Thị H, sinh năm 1996. Có mặt.

Nơi cư trú: Khối H, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi làm việc: Nhà A ngõ 12, đường D, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ

An.

2. Bị đơn: Anh Vi Văn C, sinh năm 1991. Vắng mặt

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối H, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Đang cải tạo tại Đội 4, K3, phân trại số 3; trại giam N, xã C,

huyện C, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2022, các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Lô Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị H và anh Vi Văn C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào năm 2015. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không hợp, mỗi người có một lối sống, cách sống riêng; chồng không tu chí làm ăn, sống buông thả, hiện nay đang đi cải tạo tại trại giam Nghĩa An; hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lô Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết để chị được ly hôn với anh Vi Văn C.

- Về con chung: Hai vợ chồng có một người con chung tên là Vi Thị M, sinh ngày 13/5/2016. Nguyện vọng của chị Lô Thị H là được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Vi Văn C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Lô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 01/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vi Văn C trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn C thừa nhận có đăng ký kết hôn với chị Lô Thị H tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Q. Việc kết hôn giữa anh chị là tự nguyện. Anh Vi Văn C nhất trí ly hôn.

-Về con chung: Hai vợ chồng có một người con chung tên là Vi Thị M, sinh ngày 13/5/2016. Anh Vi Văn C nhất trí giao con chung cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: Anh Vi Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng tình tự thủ tục theo pháp luật quy định. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, 72 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn C; giao con chung cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn C. Chị Lô Thị H và anh Vi Văn C không yêu cầu về Tài sản nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Quế Phong nhận định:

Về tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Bị đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lô Thị H và anh Vi Văn C là hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, anh Vi Văn C không tu chí làm ăn, sống buông thả, hiện nay đang cải tạo tại trại giam Nghĩa An; hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Điều này chứng tỏ vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn C.

Về con chung: Chị Lô Thị H và anh Vi Văn C một người con chung tên là Vi Thị M, sinh ngày 13/5/2016. Hiện nay con chung đang do chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; anh Vi Văn C đang đi cải tạo, nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do vậy cần giao con chung cho chị Lô Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lô Thị H không yêu cầu anh Vi Văn C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện; do đó cần tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn C.

Về tài sản chung: Chị Lô Thị H và anh Vi Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ xem xét và giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lô Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lô Thị H được ly hôn với anh Vi Văn C.

[2] Về con chung: Giao con chung tên là Vi Thị M, sinh ngày 13/5/2016 cho chị Lô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 12/2022 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn C.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không được ai cản trở.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về án phí: Buộc chị Lô Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị Lô Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006112 ngày 05/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong.

[5] Nguyên đơn chị Lô Thị H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Vi Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ