vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Q (Giới tính: Nữ) sinh ngày 18/4/2017 cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 8 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Ông Trần Văn Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Anh Từ Minh Đ, sinh năm 1989 (yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khóm 1, phường 1, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

3.2. Anh Lê Thanh T, sinh năm 1985 (yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khóm 1, phường 1, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Quốc D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014 anh Nguyễn Quốc D và chị Nguyễn Thị Th tự nguyện tổ chức lễ cưới và sống chung với nhau, đến ngày 15/02/2017 anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng đến tháng 4/2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn điểm chung, mâu thuẫn trầm trọng và anh chị đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay.

Về con chung: Anh D và chị Th có 01 con chung, cháu tên Nguyễn Trần Q (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/4/2017, cháu Q hiện đang sống chung với chị Th.

Tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Trong quá trình chung sống có nợ của:

1/ Anh Từ Minh Đ, địa chỉ: khóm 1, phường 1, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng 30.000.000 đồng.

2/ Anh Lê Thanh T, địa chỉ: khóm 1, phường 1, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng 27.000.000 đồng.

Nay anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th, con chung anh đồng ý để chị Th nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Q. Tài sản chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung anh D đồng ý đứng ra trả nợ cho anh Đ và anh T.

Tại bản tự khai của chị Nguyễn Thị Th trình bày: Nay anh Nguyễn Quốc D yêu cầu ly hôn thì chị Th cũng đồng ý, con chung chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Q, không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh T trình bày: Hiện tại anh Nguyễn Quốc D còn nợ của anh T số tiền 38.000.000 đồng, do anh D hứa trả dần số tiền trên cho anh T. Vì vậy, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D trả số tiền trên. Trường hợp anh D không trả thì anh T sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Do điều kiện làm ăn nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong suốt quá trình tố tụng.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Từ Minh Đ trình bày: Hiện tại anh Nguyễn Quốc D còn nợ của anh Đ số tiền 30.000.000 đồng, do anh D hứa trả dần số tiền trên cho anh Đ. Vì vậy, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D trả số tiền trên. Trường hợp anh D không trả thì anh Đ sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Do điều kiện làm ăn nên anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong suốt quá trình tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Quốc D được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Th. Về con chung giao cháu Nguyễn Trần Q cho chị Nguyễn Thị Th nuôi dưỡng. Chị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Nguyễn Quốc D không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quốc D đồng ý trả nợ cho anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T. Do anh Đ và anh T chưa yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D trả nợ nên đề nghị Hội đồng xét xử dành quyền khởi kiện cho anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T khi nào anh D không thực hiện việc trả nợ.

Về án phí: Buộc đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị Th; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn Nguyễn Thị Th; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”; căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của anh Nguyễn Quốc D tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định anh Nguyễn Quốc D và chị Nguyễn Thị Th đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 15/02/2017, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Quốc D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc và có con chung, đến tháng 4/2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn điểm chung, mâu thuẫn trầm trọng và anh chị đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc D cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của anh Nguyễn Quốc D và chị Nguyễn Thị Th là trầm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Vì vậy, anh Nguyễn Quốc D yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh Nguyễn Quốc D và chị Nguyễn Thị Th có 01 con chung, cháu tên Nguyễn Trần Q (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/4/2017, hiện đang sống chung với chị Th. Tại bản tự khai của chị Th thì khi ly hôn chị Th yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Q. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh D và chị Th ly thân đến nay chị Th là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu Nguyễn Trần Q có cuộc sống chu đáo. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc D cũng đồng ý để chị Th nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Q. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Trần Q, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Trần Q cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Th chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Quốc D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quốc D đồng ý trả số tiền còn nợ cho anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T. Do anh Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D trả nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp anh Nguyễn Quốc D không thực hiện việc trả nợ cho anh Đ và anh T thì anh Đ và anh T sẽ khởi kiện anh D thành vụ án khác khi có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn Nguyễn Quốc D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9; Điều 51; Điều 53, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Q (Giới tính: Nữ) sinh ngày 18/4/2017 cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Th chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Quốc D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quốc D đồng ý trả số tiền còn nợ cho anh Từ Minh Đ và anh Lê Thanh T. Do anh Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D trả nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp anh Nguyễn Quốc D không thực hiện việc trả nợ cho anh Đ và anh T thì anh Đ và anh T sẽ khởi kiện anh D thành vụ án khác khi có yêu cầu.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Quốc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh D được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0004117, lập ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ