vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013 đến khi cháu N thành niên. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đinh Thị Thanh H vì chị H tự nguyện không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 7 năm 2022
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Thu Hương.

2. Ông Cao Xuân Huy.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thanh H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Khu 10, xã T, huyện L, tỉnh P.

(Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh 1976.

Địa chỉ: Khu 8, xã T, huyện L, tỉnh P.

(Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ)

(Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 22/8/2012. Trước khi kết hôn vợ chồng có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh P. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở chung với bố mẹ đẻ anh T tại xã T. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ khoảng năm 2016 thì chị H về nhà bố mẹ đẻ ở Khu 10, xã T, huyện T sống, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị Đinh Thị Thanh H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013, hiện nay đang ở cùng chị H. Ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về con riêng: Chị H xác định chị có 01 con riêng là Đinh Thanh Thùy, sinh ngày 02/02/2003. Ly hôn, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con riêng.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không có công sức đóng góp gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T kết hôn với chị Đinh Thị Thanh H ngày 22/8/2012, có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh P. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở chung với bố mẹ đẻ anh T tại xã T, huyện L, tỉnh P. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Từ khoảng năm 2017 chị H về nhà bố mẹ đẻ ở khu 10, xã T, huyện L, tỉnh P, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn anh T đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013. Ly hôn anh T đề nghị để chị H trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc N.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không có công sức đóng góp gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013 đến khi cháu N thành niên.

Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đinh Thị Thanh H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Về con riêng: Chị Đinh Thị Thanh H xác định chị H có 01 con riêng là Đinh Thanh Thùy, sinh ngày 02/02/2003. Ly hôn, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con riêng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không có công sức đóng góp gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T, HKTT tại: Khu 8, xã T, huyện L, tỉnh P. Do vậy, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Đinh Thị Thanh H và bị đơn anh Nguyễn Văn T đều xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh T là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thanh H kết hôn với anh Nguyễn Văn T có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh P ngày 22/8/2012. Chị H và anh T cũng đều thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn và anh T cũng nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T đều xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013, hiện nay cháu N đang ở cùng chị H. Khi ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và anh T cũng nhất trí giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Tại bản tự khai cháu N cũng có nguyện vọng muốn được ở với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt, sự phát triển của cháu N và ý kiến của chị H, anh T, cháu N vì vậy cần giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N là phù hợp. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Về con riêng: Chị Đinh Thị Thanh H xác định chị H có 01 con riêng là Đinh Thanh Thùy, sinh ngày 02/02/2003. Ly hôn, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con riêng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không có công sức đóng góp gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao là phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/03/2013 đến khi cháu N thành niên.

Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Đinh Thị Thanh H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Về con riêng: Chị Đinh Thị Thanh H xác định chị H có 01 con riêng là Đinh Thanh Thùy, sinh ngày 02/02/2003. Ly hôn, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con riêng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không có công sức đóng góp gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Đinh Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn T mỗi người phải nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Đinh Thị Thanh H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0002040 ngày 14/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị Đinh Thị Thanh H số tiền 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

[5]. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ