- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Hồng Đ - Vũ Anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng Đ được ly hôn với anh Vũ Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự chị Phan Thị Hồng Đ
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/3/2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tâm
2. Ông Nông Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2022/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng Đ - Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Vũ Anh T - Sinh năm 1980; Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/10/2021 và trong quá trình giải quyết, xét xử nguyên đơn chị Phan Thị Hồng Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Đ và anh T kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17/3/2011 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được hai năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp và do anh T thường xuyên uống rượu, bia đánh đập chị Đ dẫn đến vợ chồng đến thường xuyên xảy ra xô sát. Vì vậy mà đã hai lần chị Đ gửi đơn ra Tòa xin được ly hôn và được Tòa án cùng gia đình khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi được gì. Nay tình cảm của chị Đ đối với anh T không còn, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Đ được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị Đ và anh T có 03 con chung là: Vũ Thị H - sinh ngày 10/5/2012, Vũ Gia B - sinh ngày 25/8/2014, Vũ Thiện Nh - sinh ngày 11/5/2018. Hiện các cháu đang ở với anh T, chị Đ. Ly hôn chị Đ có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H, còn anh T được quyền nuôi dưỡng chăm sóc cháu B, cháu Nh cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động; chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Về thu nhập của chị Đ từ nghề buôn bán tạp hóa được khoảng 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng/1 tháng, chị Đ đảm bảo có đủ khả năng về thời gian cũng như về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoa.
- Về quan hệ tài sản và công nợ:
+ Tài sản chung, Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về diện tích ruộng nương: Chị Đ khai không có.
Tại bản tự khai ngày 11/01/2022 bị đơn anh Vũ Anh T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Đ và anh T kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2011 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được hai năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Nhưng vì vẫn còn tình cảm với chị Đ nên anh T không nhất trí ly hôn. Vì vậy, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị được đoàn tụ.
- Về con chung: Chị Đ và anh T có 03 con chung là: Vũ Thị H - sinh ngày 10/5/2012, Vũ Gia B - sinh ngày 25/8/2014, Vũ Thiện Nh - sinh ngày 11/5/2018. Anh T có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cả ba cháu cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động; anh T không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Về thu nhập của anh T từ nghề sửa xe máy, hàn sì mỗi tháng bình quân được khoảng 8.000.000 đồng, anh T đảm bảo có đủ khả năng về thời gian cũng như về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu.
- Về quan hệ tài sản và công nợ:
+ Tài sản chung, Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về diện tích ruộng nương: Anh T khai không có.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
* Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Đối với nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là bản photo có công chứng hoặc bản chính, đảm bảo đúng quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ, cho chị Đ được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Anh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, tuy nhiên trong quá trình giải quyết, anh T có nguyện vọng nuôi cả ba con chung cho đến tuổi trưởng thành. Chị Đ chỉ có nguyện vọng nuôi cháu Hoa và trong bản tự khai, cháu Hoa cũng bày tỏ mong muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, còn cháu Bảo có nguyện vọng được ở với bố. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tình hình thực tế, nguyện vọng của bố mẹ cùng các con, đề nghị Tòa án xem xét giao các con chung cho người nuôi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng không yêu cầu giải quyết.
- Về quan hệ tài sản và công nợ:
+ Tài sản chung, Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về diện tích ruộng nương: Không có.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 chị Phan Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
* Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Đối với vi phạm của bị đơn làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án của Tòa án bị kéo dài. Yêu cầu bị đơn thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của nguyên đơn tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Phan Thị Hồng Đ và anh Vũ Anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Trong quá trình giải quyết vụ án anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh T vẫn không đến tham gia phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh T không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
*) Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện được pháp luật công nhận, chị Đ cho rằng cuộc sống chung của anh chị có không hạnh phúc nguyên nhân là do tính tình không hợp và do anh T thường xuyên uống rượu, bia đánh đập chị Đ dẫn đến vợ chồng đến thường xuyên xảy ra xô sát. Tại bản tự khai ngày 11/01/2022 anh T thừa nhận cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được hai năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Nhưng vì vẫn còn tình cảm với chị Đ nên anh T không nhất trí ly hôn.
Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án anh T không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không đến tham gia phiên hòa giải để trình bày quan điểm của mình, điều đó đã thể hiện anh T chưa thực sự có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác chính anh T cũng thừa nhận cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được hai năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi nhau. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương được biết cuộc sống chung của anh chị thường xuyên xảy ra xô sát do anh T thường xuyên uống rượu, bia đánh đập chị Đ. Vì vậy, không có căn cứ để chứng minh rằng cuộc sống chung của chị Đ và anh T vẫn hòa thuận, hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị Đ được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
*) Về con chung: Chị Đ và anh T có 03 con chung là: Vũ Thị H - sinh ngày 10/5/2012, Vũ Gia B - sinh ngày 25/8/2014, Vũ Thiện Nh - sinh ngày 11/5/2018. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đ có nguyện vọng được nuôi dưỡng chăm sóc cháu H, còn anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng chăm sóc cả ba cháu cho cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Mặt khác, cháu H và cháu B đều đã trên 07 tuổi, tại bản tự khai ngày 30/12/2021 cháu H có nguyện vọng được ở với chị Đ, cháu B có nguyện vọng được ở với anh T và về thu nhập các đương sự đều có thu nhập thu nhập ổn định, đảm bảo có đủ khả năng về thời gian cũng như về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho các cháu Tòa án cần giao cháu H cho chị Đ và giao cháu B, cháu Nh cho anh T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình.
*) Về quan hệ tài sản và công nợ:
+ Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về diện tích ruộng nương: Không có.
*) Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn chị Phan Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng Đ được ly hôn với anh Vũ Anh T.
2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị H - sinh ngày 10/5/2012 cho chị Phan Thị Hồng Đ và giao hai con chung là Vũ Gia B - sinh ngày 25/8/2014 và Vũ Thiện Nh - sinh ngày 11/5/2018 cho anh Vũ Anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.
Các bên đương sự có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, các thành viên trong gia đình không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của các bên.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản và công nợ:
+ Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về diện tích ruộng nương: Không có.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án chị Phan Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số: 0004803 ngày 06/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Chị Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự chị Phan Thị Hồng Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/3/2022). Anh Vũ Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên; - UBND phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục Thi hành án DS huyện ĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |