vanban.org

Bản án 16/2021/HSST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo N M K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo N M K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án và được trừ thời gian tạm giam là 31 (Ba mươi mốt) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày tù. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự tịch … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạnh - Hoàng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N M K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HSST
Ngày 20 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Trường Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Bà Nguyễn Thị Xuân Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 11/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

N M K, sinh năm 1992 (tên gọi khác: Đen); nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông (chưa xác định được cha) và bà Lê Thị Kim Đào; có 01 người em; bị cáo có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đưa vào trường giáo dưỡng; bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An từ ngày 08/12/2020 đến ngày 08/01/2021 (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Khánh: Luật sư N T T N – Văn phòng Luật sư N T T N thuộc đoàn Luật sư tỉnh Long An (có mặt).

- Bị hại: Ông T K A, sinh năm 1999

Địa chỉ: Ấp Trà Cú, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông N V N, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 20/6/2020, T K A, Nguyễn Thị Hồng Yến, Nguyễn Hải Đăng đến quán nhậu của ông N V N để ăn nhậu. Trong lúc đang nhậu thì An qua bàn của N M K, Nguyễn Văn Ẩn cùng với người tên Nhân để mời uống bia thì Ẩn đi về. Trong lúc mời uống bia thì giữa An và Khánh xảy ra mâu thuẫn, Khánh cùng Nhân bỏ đi về. Khi Nhân và Khánh trên đường về thì gặp Ẩn, do tức giận vì mâu thuẫn với An tại quán, Khánh nói với Ẩn “Mày đi với tao, có thằng đánh tao”, lúc này cả ba cùng quay lại quán của ông Nhản. Khi đến trước quán, Nhân đứng ngoài xe, Khánh và Ẩn đi vào quán để nói chuyện với An. Lúc này, Khánh cầm mũ bảo hiểm trên tay phải đi lại bàn An đang ngồi và dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vào lưng và đầu của An từ 2 đến 3 cái nhưng không gây thương tích, An đứng dậy đưa tay đỡ làm mũ bảo hiểm rơi xuống nền nhà và vỡ kính chắn gió phía trước. Khi bị Khánh đánh, An dùng tay, chân đánh lại Khánh nhưng không gây thương tích. Thấy vậy, Ẩn chạy đến can ngăn kéo Khánh đi ra phía trước quán, Khánh thấy đoạn gỗ nằm bên lề đường nên Khánh cầm lấy đi đến chỗ An đang ngồi và dùng tay phải cầm cây nhặt được đánh từ trên xuống nhiều lần làm An bị gãy tay trái. Lúc này, ông Nhản ra can ngăn và lấy lại cây gậy tầm vong mà Khánh dùng đánh An, An được người dân đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định về thương tích số: 165/TgT.20-PY ngày 08/9/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Long An kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của An là 17%.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 631/KLGĐ ngày 17/6/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực TP. Hồ Chí Minh kết luận đối với N M K về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi có hành vi cố ý gây thương tích ngày 20/6/2020 cho đến hiện tại đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Hóa đã thu giữ: 01 đoạn gỗ hình trụ tròn (Loại cây tầm vong dài 96,5cm, đường kính 3,5cm có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản); 01 ghế nhựa màu xanh bị vỡ, có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản; một số mảnh vỡ nhựa màu xanh và kính nhựa dạng kính mũ bảo hiểm được bỏ trong bao nilong có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSTH ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo N M K về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N M K từ 18 đến 24 tháng tù. Bị cáo Khánh thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Khánh là Luật sư N T T N trình bày: Hành vi của bị cáo Khánh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo Khánh là người bị hạn chế năng lực hành vi và có con nhỏ, kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Khánh được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự thủ tục điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Do đã uống bia và bị phía người bị hại làm phiền, từ đó xảy ra mâu thuẫn nhưng vì bực tức nên Khánh đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 đoạn gỗ hình trụ tròn (loại cây tầm vong dài 96,5cm, đường kính 3,5cm) đánh An gãy tay gây ra tổn thương cơ thể của An là 17%. Như vậy, hành vi của bị cáo N M K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng số 23/CT-VKSTH ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa đề nghị xử phạt bị cáo N M K từ 18 đến 24 tháng tù. Trong vụ án này, bị cáo Khánh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Khánh là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi trước, trong và sau khi thực hiện hành vi gây thương tích cho An; bị cáo đang nuôi con nhỏ. Căn cứ vào các tình tiết trên, Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhưng cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ sức tác dụng giáo dục bị cáo và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.

Riêng đối với Nguyễn Văn Ẩn và người tên Nhân (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đã đi cùng N M K quay lại quán để kiếm T K A. Việc Khánh gây thương tích cho An, Khánh không bàn bạc trước với Ẩn và Nhân đồng thời tại quán của ông Nhản, Ẩn và Nhân không có hành vi gây thương tích cho bị hại T K A nên không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa bị hại cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 30.000.000đ vào ngày 20/11/2021. Bị cáo đồng ý bồi thường 30.000.000đ cho bị hại An vào ngày 20/11/2021. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bị hại và bị cáo đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự nên cần công nhận sự tự nguyện thỏa thuận này.

Về các vấn đề có liên quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ghế nhựa màu xanh bị vỡ là tài sản của ông N V N do bị cáo Khánh làm hư hỏng, ông Nhản không yêu cầu bồi thường nên Tòa án không xem xét.

Về vật chứng: 01 đoạn gỗ hình trụ tròn (loại cây tầm vong); 01 ghế nhựa màu xanh bị vỡ; một số mảnh vỡ nhựa màu xanh và kính nhựa dạng kính mũ bảo hiểm được bỏ trong bao nilong là hung khí và các vật dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo N M K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo N M K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo N M K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án và được trừ thời gian tạm giam là 31 (Ba mươi mốt) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gỗ hình trụ tròn (loại cây tầm vong dài 96,5cm, đường kính 3,5cm có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản; 01 ghế nhựa màu xanh bị vỡ, có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản; một số mảnh vỡ nhựa màu xanh và kính nhựa dạng kính mũ bảo hiểm được bỏ trong bao nilong có chữ ký niêm phong của Trần Văn Nhản (Theo quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS ngày 23/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự; các Điều 235, 246 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị hại T K A và bị cáo Khánh như sau: Ngày 20/11/2021, bị cáo Khánh có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại An số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bị cáo Khánh chậm trả thì bị cáo Khánh còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH/QH14. Bị cáo N M K phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm, tất cả sung vào công quỹ nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo trong phạm vi có liên quan.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ