vanban.org

Bản án 16/2021/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 03/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh P phạm tội iết người .

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2020. V trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự; Công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Trần Thanh P và bà Nguyễn Thị B, ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị T, cụ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh P phạm tội iết người .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày: 03-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Vĩnh Kỳ

Ông Trần Tiến Thành

Ông Nguyễn Hữu Nhạc

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Trần Thanh P, sinh năm 1979 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: lao động biển; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ và 05 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 18/8/2020 đến ngày 20/8/2020, tạm giam từ ngày 21/8/2020; hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV MK thuộc Đoàn Luật sư tỉnh BT (có mặt)

- Bị hại: Lê Thị Thu T, sinh năm 1986 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người đại diện theo pháp luật (người giám hộ) của các cháu Trần Thị Thanh H, sinh ngày 20/9/2009; Trần Thanh P, sinh ngày 28/8/2012 và Trần Thị Thanh D, sinh ngày 28/5/2014:

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1960; Ông Lê Quốc A, sinh năm 1957; Là cha, mẹ ruột của bị hại Lê Thị Thu T (có mặt) Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận

- Người đại diện theo pháp luật (người giám hộ) của các cháu Trần Thị Thanh N, sinh ngày 28/01/2006 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 04/12/2007 (là con của bị hại Lê Thị Thu T): Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; Là bà nội của các cháu (có mặt) Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận

- Người làm chứng: 1. Anh Lê Quốc T, sinh năm 1993 2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971 3. Anh Ngô Văn S, sinh năm 1992 4. Bà Trần Thị S, sinh năm 1975 5. Chị Trần Thị Liễu N, sinh năm 1997 Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận. Tất cả người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo Cáo trạng: Trần Thanh P và Lê Thị Thu T là vợ chồng, chung sống tại khu phố C, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình chung sống, do có mâu thu n nhau nên Lê Thị Thu T bỏ đi nơi khác sinh sống trong thời gian dài, đến khoảng ngày 11/8/2020 thì về lại nhà. Khoảng 16 giờ ngày 17/8/2020, sau khi vợ chồng xảy ra cải vã nhau, Lê Thị Thu T đi sang nhà Ngô Văn S cách đó khoảng 100m chơi, còn Trần Thanh P ngồi uống bia tại nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Trần Thanh P bảo con ruột là Trần Thị Thanh H đi tìm và gọi mẹ về nhưng Lê Thị Thu T không chịu về. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, Trần Thanh P đến nhà Ngô Văn S gọi thì Lê Thị Thu T mới chịu về. Khi về đến nhà, Trần Thanh P ra nhà bếp lấy 01 con dao, cán nhựa màu đen dài 14cm, lưỡi b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,2cm, m i nhọn, cầm ở tay phải quay ra lại trước nhà, thấy Lê Thị Thu T ngồi trên lan can bên phải, quay mặt vào trong nhà, Trần Thanh P cầm dao đến gần đối diện nói: M mày láo , rồi dùng dao đâm vào người Lê Thị Thu T. Bị đâm, Lê Thị Thu T co chân lên nói: Ông làm gì vậy? . Lúc này, Trần Thanh P thay đổi tư thế cầm dao cho m i quay xuống dưới, đâm liên tiếp 2 đến 3 cái làm Lê Thị Thu T té ngã xuống sân trước nhà, con dao bị gãy cán, Trần Thanh P ném cán dao ra bãi đất trống bên phải nhà, rồi lượm phần lưỡi dao tiếp tục đâm vào người Lê Thị Thu T từ 2 đến 3 cái nữa, thì cháu Trần Thị Thanh H xông vào ôm Trần Thanh P lại, Lê Thị Thu T vùng dậy bỏ chạy ra đường bê tông trước nhà được một đoạn khoảng 35m thì gục ngã và chết trên đường đưa đến Bệnh viện thị xã La Gi cấp cứu.

Sau khi đâm Lê Thị Thanh T bị thương nặng, Trần Thanh P vứt bỏ phần lưỡi dao gần vị trí cán dao vứt bỏ trước đó, vào nhà mặc áo thun và đi ra biển phía sau nhà tắm, sau đó đến Công an phường Bình Tân, thị xã La Gi đầu thú.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT – Công an t nh Bình Thuận lập ngày 18/8/2020, tại khu phố C, phường BT, thị xã LG:

Hiện trường nơi Lê Thị Thu T bị đâm là trước nhà bà Nguyễn Thị T, là mẹ ruột Trần Thanh P, thuộc khu phố C, phường BT, thị xã LG.

Nhà bà Nguyễn Thị T là nhà cấp 4, kích thước: (9,50 x 3,80)m, mái tôn, tường xây, nền lát gạch hoa, có 01 khu bếp, 01 phòng ngủ và 01 phòng khách. Hướng Bắc là đường bê tông, rộng 3,60m, hướng Nam, Đông giáp khu vực đất trống, hướng Tây giáp nhà Trần Công N. Cửa chính ra vào b ng gỗ, loại 02 cánh, kích thước: (0,90 x 1,94)m, khu vực hiên nhà phía trước, kích thước: (2,45 x 3,80)m, ngoài hiên là khu vực sân gạch, hướng Đông dài 3,60m, hướng Bắc rộng: 4,50m, hướng Tây rộng: 1,80m, chiều cao so với nền mái hiên là 23cm. Bên ngoài sân gạch là cổng ra vào b ng gỗ sơn màu đen, loại cửa kéo, kích thước: (1,30 x 1,40)m, mặt đường bê tông phía Bắc trước nhà Nguyễn Thị T cách nền cổng nhà 22cm.

Vị trí số 1 là khu vực sân gạch trước nhà Nguyễn Thị T có vùng chất màu nâu đỏ, dạng nhỏ giọt rải rác, kích thước: (2,70 x 0,70)m, cách cửa ra vào 4m và cách tường hướng Tây của sân gạch 2,70m.

Vị trí số 2 cách vách nhà Nguyễn Thị T 4,60m và cách mép đường bê tông 13m phát hiện 01 lưỡi dao b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,20cm, có đầu nhọn và 01 cạnh sắc, trên lưỡi dao có dòng chữ: Kiwi Brand made in Thailan, trên lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ đã khô, chân lưỡi dao có vết gãy còn mới, lưỡi dao n m trong bụi rau muống biển, cao 30cm. Vị trí số 2 n m về hướng Đông so với vị trí số 1.

Từ vị trí số 2 về hướng Bắc 3,90m là vị trí số 3, cách tường nhà Nguyễn Thị T 3,20m, cách mép đường bê tông 9,10m phát hiện 01 cán dao b ng nhựa màu đen, kích thước: (12 x 4)cm, trên cán dao có dòng chữ Kiwi, đầu cán dao có vết gãy kim loại còn mới, cán dao n m trong bụi rau muống biển trên khu vực đất trống.

Từ vị trí số 1 đo đến tâm đường bê tông trước nhà Nguyễn Thị T 02m, từ vị trí này về hướng Đông đến trước nhà Phan Thị Ngọc N 24,80m, ngay sát chân tường rào phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng bệt, kích thước: (85 x 78)cm, mặt ngoài trên tường rào có bám dính chất màu nâu đỏ, kích thước: (1 x 0,70)m, là vị trí số 4.

Từ vị trí số 4 đến đầu hẻm rộng 1,20m về hướng Đông 7m và từ mép đường đầu hẻm vào 1,40m, cách tường nhà Đoàn Thanh H 70cm phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng bệt, kích thước: (70 x 60)cm, là vị trí số 5. Từ vị trí số 1 đến vị trí số 5 theo đường bê tông hướng từ Tây sang Đông có độ dốc mặt đường 2% phát hiện có nhiều chất màu nâu đỏ n m rải rác. Biên bản khám nghiêm tử thi Lê Thị Thu T lập lúc 03 giờ ngày 18/8/2020, tại nhà bà Nguyễn Thị B, thuộc khu phố T, phường BT, thị xã LG: Khám ngoài: Tình trạng tử thi: Tử thi trong giai đoạn cứng xác, hoen tử thi đã cố định ở vùng lưng và thắt lưng, 2 mắt khép hờ, đồng tử giãn đều 2 bên, 2 lỗ tai, 2 lỗ m i khô, miệng khép hờ, lưỡi n m trong khung răng. Các dấu vết tổn thương cơ thể: Mảng xay sát da vùng mặt phía trước tai phải, kích thước: (4 x 2)cm. Vết thương vùng cổ bên phải, cách góc hàm phải 3cm, dài 3,5cm được may 3 m i chỉ. Vết thương vùng ngực trái cách đỉnh vú trái về phía trên 3cm, dài 3,2cm được may 2 m i chỉ. Vết thương ở đường nách sau bên trái, cách hõm nách bên trái 3cm, ở gian sau khoảng gian sườn số 2, số 3 bên trái, mép vết thương sắc gọn có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, kích thước: (1,4 x 0,4)cm, tổn thương cân cơ không thấu ngực. Vết thương mép sắc gọn ở 1/3 trên mặt ngoài đùi bên trái, có chiều hướng từ trên xuống, từ trái sang phải, kích thước: (3 x 1)cm, sâu 3,5cm, tổn thương cân cơ. Mổ tử thi: Cắt chỉ mở rộng vết thương vùng cổ phải, mép vết thương sắc gọn, kích thước: (3 x 1,2)cm, sâu 3,5cm có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Giải ph u vùng cổ bên phải tụ máu màu đen cân cơ dưới da vùng cổ phải, tỉnh mạch cảnh, động mạch cảnh bên phải còn nguyên không bị tổn thương. Cắt chỉ vết thương vùng ngực trái, mép vết thương sắc gọn, kích thước: (3 x 0,8)cm, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ trước ra sau thấu ngực. Giải ph u mở rộng khoang lồng ngực, đứt cung trước xương sườn số 7 bên trái, khoang ngực trái chứa nhiều máu loãng l n máu cục màu đen khoảng 2000ml, khoang ngực phải khô, 02 phổi căng phồng màu hồng nhạt còn nguyên vẹn không tổn thương. Rách mạch trước bao màng tim, kích thước: (1,7 x 1,7)cm, mở khoang màng tim, khoang màng tim chứa máu loãng, thủng mạch trước tâm thất phải, kích thước: (1,2 x 0,2)cm. Khoang bụng khô, các tạng trong ổ bụng còn nguyên.

Kết luận giám định pháp y v tử thi số 187/2020/TT ngày 28/9/2020 của Trung tâm pháp y t nh Bình Thuận, kết luận nguyên nhân chết của Lê Thị Thu T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Trên cơ thể nạn nhân có 04 vết thương:

+ Vết thương vùng cổ bên phải cách góc hàm phải 3cm được may 3 m i chỉ dài 3,5cm.

+ Vết thương vùng ngực trái dưới vú trái cách đỉnh núm vú trái về phía trên 3cm, dài 3,2cm, may 2 m i chỉ + Vết thương đường nách sau bên trái cách hõm nách trái 3cm ở cung sau khoang gian sườn số – mép sắc gọn có kích thước 1,4 x 0,4cm, có chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới sâu 3cm tổn thương cân cơ, không thấu ngực

+ Vết thương mép sắc gọn ở 1/3 trên ngoài đùi bên trái có kích thước 3 x 1cm, có chiều hướng từ trên xuống dưới từ trái sang phải sâu 3,5cm, tổn thương cân cơ.

- Do vật sắc nhọn gây ra.

- Cùng 01 loại hung khí.

2. Nguyên nhân chết: Mất máu cấp - Suy tuần hoàn cấp - Tử vong do vết thương vùng ngực trái.

Kết luận giám định số 4403/C09B ngày 22/9/2020 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Dấu vết trên lưỡi dao và các dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí số 1, 4, 5 là máu người, một nữ giới. Kiểu gen nữ giới này trùng với kiểu gen của nạn nhân Lê Thị Thu T.

- Dấu vết trên cán dao không phải là máu người.

Kết luận giám định số 1294/KL Đ-PC09 ngày 08/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an t nh Bình Thuận, kết luận các d u vết trên quần áo Lê Thị Thu T như sau: 03 dấu vết trên áo và quần gửi đến giám định là do vật sắc nhọn, có một lưỡi cắt gây ra; Các dấu vết trên hình thành do vật sắc nhọn, có một lưỡi cắt tác động theo hướng từ ngoài vào trong.

Việc thu giữ, xử lý vật chứng:

- 01 cán dao nhựa màu đen, kích thước (14 x 4)cm, 01 lưỡi dao b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,20cm, m i nhọn trên lưỡi dao có dòng chữ Kiwi Brand made in Thailan.

- 01 áo ngắn tay màu trắng, hoa văn màu vàng và đen, 01 quần ean dài màu xanh.

- Các chất màu nâu đỏ hoàn lại sau giám định thu tại vị trí 1, 4, 5 trong quá trình khám nghiệm hiện trường. Các vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận chuyển đến kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận để đảm bảo việc xét xử và thi hành án. V dân sự: Quá trình điều tra, truy tố, bà Nguyễn Thị B là mẹ ruột Lê Thị Thu T và các đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường. Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa: 1. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. 2. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên. Vì quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hối hận về hành vi phạm tội của mình; sau khi gây án đã tự đến Công an phường Bình Tân đầu thú; bị cáo phạm tội do lạc hậu vì trình độ học vấn thấp; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn. 3. Bà Nguyễn Thị B, ông Lê Quốc A là người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật; Về dân sự: yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông A, bà B 80.280.000đồng tiền chi phí mai táng; bồi thường tổn thất tinh thần 149.000.000đồng cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Lê Thị Thu T gồm bà Nguyễn Thị B, ông Lê Quốc A và 05 người con của chị T. 4. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- V trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội iết người ; Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 17 năm tù.

- V biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” ngày 18/01/2021 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận.

- V trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đồng ý bồi thường các khoản theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt những người làm chứng: Xét thấy việc vắng mặt những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, như ý kiến đề nghị của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và Kiểm sát viên là phù hợp.

Về việc thay đổi tư cách tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị T và ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B là bà nội và ông, bà ngoại của các cháu Trần Thị Thanh N, Trần Thị Thanh T, Trần Thị Thanh H, Trần Thanh P và Trần Thị Thanh D (là con ruột của bị cáo và bị hại Lê Thị Thu T) thống nhất thỏa thuận cử người giám hộ cho các cháu, cụ thể: Bà Nguyễn Thị T giám hộ cho các cháu Trần Thị Thanh N, Trần Thị Thanh T; ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B giám hộ cho các cháu Trần Thị Thanh H, Trần Thanh P và Trần Thị Thanh D. Xét sự thỏa thuận này là phù hợp quy định tại Điều 52 Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Đồng thời thay đổi tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị T từ người làm chứng thành người đại diện theo pháp luật (người giám hộ) cho các cháu Trần Thị Thanh N, Trần Thị Thanh T; ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B là người bị hại, đồng thời là người đại diện theo pháp luật (người giám hộ) cho các cháu Trần Thị Thanh H, Trần Thanh P và Trần Thị Thanh D.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì của những người tham gia tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh P khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thu n trong cuộc sống vợ chồng, nên Lê Thị Thu T bỏ nhà đi nơi khác một thời gian. Đến ngày 11/8/2020 thì về lại, nhưng vợ chồng tiếp tục mâu thu n nhau. Đến 20 giờ 30 phút ngày 17/8/2020, Lê Thị Thu T đang chơi tại nhà Ngô Văn S ở gần nhà thì Trần Thanh P đến gọi về. Khi Lê Thị Thu T về đến nhà và đang ngồi tại lan can bên phải phía trước nhà tại khu phố C, phường BT, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận thì Trần Thanh P lấy 01 con dao có cán nhựa màu đen, kích thước (14 x 4)cm, lưỡi dao b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,2cm, m i nhọn, đâm Lê Thị Thu T nhiều cái vào cổ bên phải, ngực trái, đường nách sau bên trái và đùi trái, hậu quả làm Lê Thị Thu T tử vong (Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 187/2020/TT ngày 28/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận). [3] Hành vi của bị cáo xuất phát từ mâu thu n nhỏ nhặt trong đời sống vợ chồng, nhưng đã cố ý tước đoạt tính mạng của vợ là chị Lê Thị Thu T như trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội iết người với tình tiết định khung Có tính ch t côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4] Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt, đâm liên tục vào người bị hại, không những tước đoạt tính mạng của người khác, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm và áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo; Đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên. [5] Tuy nhiên, khi lượng hình c ng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, vì quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi gây án đã đến cơ quan công an đầu thú và tại phiên tòa hôm nay đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Kiểm sát viên và Luật sư đề nghị áp dụng cho bị cáo là phù hợp. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị T và bị cáo Trần Thanh P thống nhất thỏa thuận:

- Bị cáo Trần Thanh P bồi thường cho ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B 80.280.000đồng tiền chi phí mai táng.

- Bị cáo Trần Thanh P bồi thường 149.000.000đồng tiền tổn thất tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Lê Thị Thu T gồm ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B và 05 người con của chị T; Chia phần mỗi người được bồi thường 21.285.500đồng (lấy số tròn). Xét sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận. [7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 cán dao nhựa màu đen, kích thước (14 x 4)cm; 01 lưỡi dao b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,2cm, m i nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ Kiwi Brand made in Thailan; 01 áo ngắn tay màu trắng, hoa văn màu vàng và đen; 01 quần ean dài màu xanh; Các chất màu nâu đỏ hoàn lại sau giám định thu tại vị trí 1, 4 và 5 trong quá trình khám nghiệm hiện trường (đựng trong túi giấy). Đây là công cụ phạm tội, vật chứng không có giá trị và không sử dụng được nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh P phạm tội iết người .

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2020.

- V trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự; Công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Trần Thanh P và bà Nguyễn Thị B, ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị T, cụ thể:

1. Bị cáo Trần Thanh P bồi thường cho ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B 80.280.000đồng tiền chi phí mai táng.

2. Bị cáo Trần Thanh P bồi thường 149.000.000đồng tiền tổn thất tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Lê Thị Thu T gồm ông Lê Quốc A, bà Nguyễn Thị B và các cháu Trần Thị Thanh N, Trần Thị Thanh T, Trần Thị Thanh H, Trần Thanh P, Trần Thị Thanh D; Chia phần mỗi người được bồi thường 21.285.500đồng (lấy số tròn). Phần của các cháu Trần Thị Thanh N, Trần Thị Thanh T do người giám hộ là bà Nguyễn Thị T đại diện nhận; Phần của các cháu Trần Thị Thanh H, Trần Thanh P và Trần Thị Thanh D do người giám hộ là ông Lê Quốc A và bà Nguyễn Thị B đại diện nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- V xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy:

1. 01 cán dao nhựa màu đen, kích thước (14 x 4)cm; 01 lưỡi dao b ng kim loại màu trắng, dài 21cm, rộng 3,2cm, m i nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ Kiwi Brand made in Thailan;

2. 01 áo ngắn tay màu trắng, hoa văn màu vàng và đen; 01 quần ean dài màu xanh;

3. Các chất màu nâu đỏ hoàn lại sau giám định thu tại vị trí 1, 4 và 5 trong quá trình khám nghiệm hiện trường (đựng trong túi giấy).

(Các vật chứng nêu trên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/01/2021 giữa Cục Thi hành án dân sự t nh Bình Thuận và Cơ quan Cảnh sát đi u tra (PC01) Công an t nh Bình Thuận).

- V án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Trần Thanh P phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 11.464.000đồng (Mười một triệu, bốn trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- V quy n kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện theo pháp luật của người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/3/2021). Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi thành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ