vanban.org

Bản án 16/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 09/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ Luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 q…

1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T phạm tội “ đánh bạc”. 2 Về hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ Luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 q…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HSST
Ngày 09 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cử

2. Ông Tạ Văn Toan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/TLST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/ QĐXXST – HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:

1.

Bị cáo Nguyễn Văn M, sinh ngày 12/11/1978; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm 3, Thắng Đ, xã Khánh Th, huyện Yên M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D; con bà Nguyễn Thị M ( đã chết) ; Vợ Vương Thị H, con có 4 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 18/10/2020 bị Công an xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000đồng về hành vi “ đánh bạc” đến ngày 23/10/2020 bị cáo nộp tiền phạt; Nhân thân: Ngày 15/12/2013 bị Công an xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô xử phạt hành chính, phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi “ Đánh bạc” ngày 02/6/2014 nộp tiền phạt ; Bị cáo đang chấp hành lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.

Bị cáo : Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/6/1983; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm 3, Thắng Đ, xã Khánh Th, huyện Yên M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quân L ( đã chết); con bà Nguyễn Thị Nh ; Vợ Trần Thị Th, con có 2 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 18/10/2020 bị Công an xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô xử phạt hành chính, phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi “ đánh bạc” đến ngày 23/10/2020 bị cáo nộp tiền phạt; Bị cáo đang chấp hành lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn H, sn 1974, trú tại xóm 2, Thắng Động, xã Khánh

Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn Ch, sn 1985, trú tại xóm 2, Thắng Động, xã Khánh

Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt)

3. Anh Đinh Văn Đ, sn 1986, trú tại xóm 3, Thắng Động, xã Khánh Thượng,

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt)

4. Anh Vũ Văn C, sn 1974, trú tại xóm 3, Thắng Động, xã Khánh Thượng,

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt)

5. Anh Vương Văn H, sinh năm 1981, trú tại xóm 3, Thắng Động, xã Khánh

Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

Người chứng kiến: Anh Phạm Văn C (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn M đã bị Công an xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử lý hành chính về hành vi “ đánh bạc” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Khoảng 12 giờ ngày 21/01/2021 Nguyễn Văn M cùng với Vương Văn H đến nhà anh Phạm Văn C trú tại xóm 3, Thắng Động, xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình chơi. Thấy nhà anh C mở cửa, không có ai ở nhà nên M và H ngồi uống nước tại phòng khách của gia đình anh C. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày Nguyễn Văn T cũng đến nhà anh C ngồi chơi uống nước, khi đang ngồi uống nước H thấy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân để trên bàn uống nước nên rủ M và T “ anh em làm tý liêng, và quy định gà 10.000đồng, phạt tối đa 100.000đồng” thì T và M đồng ý. Cả 3 ngồi xuống nền nhà tại gian phòng khách của nhà anh C đánh bạc, ba người đánh bạc đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày thì lần lượt có Vũ Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ và Vũ Văn C đều trú tại xã Khánh Thượng đến nhà anh C chơi thì thấy đánh bạc nên xin vào chơi cùng, khi H và Ch, Đ và C vào thì hình thức chơi, mức độ sát phạt không thay đổi. Cả nhóm chơi đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Yên Mô phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan đến vụ án bao gồm 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và tổng số tiền 13.480.000đồng ( trong đó thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 1.840.000đồng; số tiền ở giữa chiếu là 70.000đồng; thu giữ trong người Nguyễn Văn M số tiền 4.200.000đồng; Nguyễn Văn T số tiền 1.100.000đồng; Vương Văn H số tiền 1.020.000đồng; Đinh Văn Đ số tiền 1.250.000đồng; Vũ Văn C số tiền 4.000.000đồng)

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T, Vương Văn H, Vũ Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ, Vũ Văn C sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.930.000đồng, số tiền không sử dụng vào việc đánh bạc là 10.550.000đồng.

Trong đó Nguyễn Văn M sử dụng số tiền 200.000đồng để đánh bạc khi bị bắt Minh thắng 90.000đồng; Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 400.000đồng, khi bị bắt thua 270.000đồng; Vũ Văn H sử dụng số tiền 100.000đồng khi bị bắt thắng 100.000đồng; Vũ Văn C sử dụng số tiền 580.000đồng khi bị bắt thắng 110.000đồng; Đinh Văn Đ sử dụng số tiền 350.000đồng khi bị bắt thua 220.000đồng; Nguyễn Văn Ch sử dụng số tiền 100.000đồng khi bị bắt thắng 110.000đồng; Vũ Văn H sử dụng số tiền 1.200.000đồng khi bị bắt thắng 80.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố các bị can: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo từ 20 triệu đến 25 triệu đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung NSNN số tiền 2.930.000đồng; tịch thu tiêu hủy bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng; Trả lại cho Nguyễn Văn M số tiền 4.200.000đồng ( bốn triệu hai trăm nghìn đồng); cho Nguyễn Văn T số tiền 1.100.000đồng( một triệu một trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản vi phạm cũng như vật chứng được thu giữ có đủ căn cứ để xác định. Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn coi như chưa bị xử phạt hành chính. Đến ngày 21/01/2021, tại nhà ở anh Phạm Văn C, ở xóm 3, xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô. Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T có hành vi “ đánh bạc” trái phép bằng hình thức “ Đánh liêng” được thua bằng tiền với Vũ Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ, Vương Văn H và Vũ Văn C, có tổng số tiền sử dụng vào việc “ đánh bạc” là 2.930.000đồng.

Hành vi trên của Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T thực hiện đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc vi phạm quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Từ cờ bạc dẫn đến hàng loạt các loại tội phạm khác. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì cần thiết phải đưa ra xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

Về vị trí vai trò: Trong vụ án M và T có vai trò ngang nhau, đều cùng tham gia đánh bạc khi được H rủ, số tiền và thời gian chơi như nhau nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội mà mình thực hiện.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Qua xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đánh bạc với số tiền dùng vào việc đánh bạc ít, Nguyễn Văn M 200.000đồng, Nguyễn Văn T 400.000đồng do không làm chủ được bản thân khi được H rủ. Tất cả nhóm chơi bạc có tổng số tiền 2.930.000đồng. Vì vậy, xét thấy để các bị cáo có cơ hội trở thành người công dân tốt, thì chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt ít nghiêm khắc bằng hình phạt tiền cũng giúp các bị cáo tự cải tạo để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án còn có: Vũ Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ, Vương Văn và Vũ Văn C cùng tham gia vào việc đánh bạc, số tiền mà các bị cáo và người liên quan sử dụng vào việc đánh bạc là 2.930.000đồng, bản thân Vũ Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ, Vương Văn H và Vũ Văn C không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc do đó Công an huyện Yên Mô đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Vũ Văn H, Vương Văn H, Nguyễn Văn Ch, Đinh Văn Đ và Vũ Văn C là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Phạm Văn C là chủ nhà, quá trình bị cáo M, T và các đối tượng chơi bạc, anh C không có mặt ở nhà do vậy anh C không vi phạm pháp luật

Đối với số tiền các bị cáo và người liên quan dùng vào việc đánh bạc, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định: Nguyễn Văn M sử dụng số tiền 200.000đồng; Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 400.000đồng; Vũ Văn H sử dụng số tiền 100.000đồng; Vũ Văn C sử dụng số tiền 580.000đồng; Đinh Văn Đ sử dụng số tiền 350.000đồng; Nguyễn Văn Ch sử dụng số tiền 100.000 đồng; Vương Văn H sử dụng số tiền 1.200.000đồng. Tổng số tiền các bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc 2.930.000đồng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với số tiền đã thu giữ của Nguyễn Văn M, và Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo M không sử dụng vào việc đánh bạc là 4.200.000đồng và bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 1.100.000đồng. Được trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

+ Đối với bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Yên Mô thu giữ đã qua sử dụng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Số tiền các bị cáo và người liên quan sử dụng vào việc phạm tội là 2.930.000đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ Số tiền 4.200.000đồng của M và số tiền 1.100.000 đồng của T không dùng vào việc phạm tội, khi quyết định cần trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.

Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ Luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

1.1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T phạm tội “ đánh bạc”.

1.2 Về hình phạt.

1.2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 25.000.000 đồng ( hai mươi lăm triệu đồng)

1.2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu đồng)

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

2.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.930.000đồng ( Hai triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng)

2.2 Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ cũ đã qua sử dụng;

2.3: Trả lại cho Nguyễn Văn M số tiền 4.200.000đồng ( bốn triệu hai trăm nghìn đồng); cho Nguyễn Văn T số tiền 1.100.000đồng( một triệu một trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2021 và ủy nhiệm chi lập ngày 17 tháng 3 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm..

Án xử công khai sơ thẩm báo để các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ