- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM Cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| –––––––––––––––––– Bản án số: 16/2021/HSST; Ngày 24 tháng 02 năm 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Xê.
2. Ông Vũ Nguyên Lâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2021/TLST-HS ngày 03/02/2021 đối với bị cáo:
*Bùi Xuân H, sinh năm 1990 tại huyện HĐ, thành phố Hà Nội; Trú tại: Thôn KH, xã VC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; Con ông Bùi Xuân H và bà Đàm Thị T; Vợ là Triệu Thị D, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2010, con;
+ Tiền án: Không.
+ Tiền sự: 02 tiền sự.
- Ngày 12/11/2014, Công an huyện HĐ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa nộp phạt).
- Ngày 27/01/2015, Công an huyện HĐ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa nộp phạt).
Nhân thân:
- Tại Bản án số 59/2015/HSST ngày 18/8/2015 Tòa án nhân dân huyện HĐ, TP. Hà Nội xử 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 13/02/2016 chấp hành xong án phạt tù. (Đã xóa án tích).
- Ngày 17/3/2015, Công an huyện HĐ xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Tại Bản án số 164/2017/HSST ngày 05/6/2017 Tòa án nhân dân TP. Hà Nội xử phạt 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 14/3/2018 Bùi Xuân H chấp hành xong án phạt tù. (Đã xóa án tích).
- Từ ngày 24/6/2019 đến ngày 24/12/2019 cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện số 2, TP. Hà Nội.
- Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 25/11/2020 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
Có mặt.
*Bị hại: Ông Nguyễn Sỹ A, sinh năm: 1966 Địa chỉ: Thôn KH, xã VC, huyện HĐ, TP. Hà Nội.
Vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/11/2020, Bùi Xuân H (Sinh năm: 1990, Nơi cư trú: thôn KH, xã VC, huyện HĐ, TP. Hà Nội) đi xe đạp nhãn hiệu AVIBUS màu đỏ (là xe của con H) từ nhà đến quán Internet để chơi. Khi đi đến khu vực thôn AT, xã VC, huyện HĐ, TP. Hà Nội, H thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số: 30M6 – 3724 của ông Nguyễn Sỹ A (Sinh năm: 1966, Nơi cư trú: thôn KH, xã VC, huyện HĐ, TP. Hà Nội) đang dựng ngoài đường, không khóa cổ, khóa càng, không có người trông giữ nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó H để xe đạp của mình vào trong ngõ số 23 đường AT, xã VC rồi đi bộ quay lại vị trí chiếc xe mô tô trên, khi lại gần H nhìn thấy xe mô tô biển số: 30M6 – 3724 đèn số 0 đang báo sáng (ổ không có chìa khoá) nên H dắt chiếc xe mô tô lùi ra sau và nổ máy phóng đi. Khi đi qua khu vực Đại lộ Thăng Long, H dừng xe, mở cốp xe phát hiện có cờ lê nên đã dùng cờ lê tháo biển số 30M6 – 3724, hai cánh yếm xe và hai gương xe vứt ở ven đường (H không nhớ rõ vị trí) rồi điều khiển xe mô tô đến bãi đất trống thuộc xã CĐ, TX. ST, TP. Hà Nội để cất giấu chiếc xe.
Ngày 24/11/2020, ông Nguyễn Sỹ A trình báo sự việc trên. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã tiến hành rà soát camera xung quanh khu vực hiện trường phát hiện đối tượng nghi vấn là Bùi Xuân H nên đã triệu tập H lên làm việc, tuy nhiên H không có mặt ở nhà. Đến ngày 25/11/2020, H đến Cơ quan công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không có biển số) (thu giữ tại bãi đất thuộc Xóm 2, thôn ĐK, xã CĐ, TX. ST, TP. Hà Nội theo chỉ dẫn của Bùi Xuân H).
Đối với chiếc biển số 30M6 – 3724, hai cánh yếm và hai gương của xe, do H không nhớ và không chỉ dẫn được vị trí đã vứt tại ven đường Đại lộ Thăng Long nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại Bản kết luận định giá số 167/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện HĐ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không có BKS), số khung: RLHHA0804AY052173 số máy: HA08E – 1352200 có giá 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng)”.
Ngày 27/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream thu giữ của H. Tại Bản kết luận giám định số 10483 ngày 01/12/2020 của phòng PC09 – CATP Hà Nội kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không có BKS), số khung: RLHHA0804AY052173 số máy: HA08E – 1352200 là số khung, số máy nguyên thuỷ”. Chiếc xe trên không có trong dữ liệu xe tang vật, vật chứng. Do vậy ngày 04/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ trao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream trên cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Sỹ A. Ông A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ, Bùi Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKSHĐ ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã truy tố Bùi Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ giữ nguyên cáo trạng truy tố Bùi Xuân H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Điều 173, điểm s, Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 - 24 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/11/2020, tại khu vực thôn AT, xã VC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Bùi Xuân H đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 30M6 – 3724 của ông Nguyễn Sỹ A.
. Hành vi của bị cáo là cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng).
. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của Bùi Xuân H cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh H đến T hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Toà án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
. Về T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Khi quyết định hình phạt bị cáo được H T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; là người dân tộc thiểu số; bị cáo ra đầu thú theo quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã nhiều lần bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại tội đã cho thấy bản chất lười lao động, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Viện kiểm sát nhân đân huyện HĐ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.
. Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp và xử vật chứng:
Ngày 04/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Sỹ A là đúng pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2020.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
* Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bùi Xuân H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: ¸p dông §iÒu 331 và Điều 333 Bé luËt Tè tông h×nh sù;
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND.TP.Hà Nội; - VKSND huyện HĐ; - Công an. H.HĐ; - Chi cục THADS huyện HĐ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hải |