- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16 /2021/HS-ST Ngày 05-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kim Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Lan Anh
Ông Nguyễn Nhật Chiến
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2021 tại Phòng xét xử số 01, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2021/TLST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Lò Văn L; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1986 tại
tỉnh Lai C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản M, xã Mường T, huyện Than U, tỉnh Lai C; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1965 và con bà Phan Thị , sinh năm 1966; vợ Tòng Thị Vĩnh, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con có 01 con; tiền án: Không; nhân thân tại bản án số 22/2008/HSST ngày 10-12-2008 của Tòa án nhân dân huyện Than U, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 12-9-2009, đã xóa án tích; Bản án số 119/2016/HSST ngày 28-9-2016 của Tòa án nhân dân huyện Than U, tỉnh Lai Châu quyết định miễn trách nhiệm hình sự do "Hàm lượng Heroin sau khi quy đổi được trọng lượng Heroine tinh chất 0,092g" đã được xóa án tích; Tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14-11-2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Văn T, địa
chỉ số 2 ngõ 167, đường Mỹ S, phường Vĩnh T, thành phố Lạng S, vắng mặt; Người chứng kiến: Ông Chu Văn S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 14-11-2020 , tại khu vực trước cửa số nhà 26 phố Kỳ L, phường Hoàng Văn T, thành phố Lạng S,tỉnh Lạng Sơn, Công An thành phố Lạng S phát hiện bắt quả tang Lò Văn L, sinh năm 1986, trú tại Bản M, xã Mường T, huyện Than U, tỉnh Lai C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng, 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất in chữ Novocain chưa qua sử dụng, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng,biển kiểm soát (BKS) 35B1-127.01. Tại phiên tòa, Lò Văn L khai nhận: Bản thân là đối tượng sử dụng chất ma túy Heroine từ năm 2008 đến nay. Ngày 11-11-2020, Lò Văn L đi xe khách từ nhà đến tỉnh Lạng Sơn nhận làm thuê cho anh Đinh Văn T, sinh năm 1980, địa chỉ số 02/167 đường Mỹ S, phường Vĩnh T, thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn là chủ thầu đang xây dựng tại thôn Đại S, xã Hợp T, huyện Cao L, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 11 giờ ngày 14-11-2020, Lò Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B1-127.01 đi từ huyện Cao L đến thành phố Lạng S tìm mua ma túy heroine để sử dụng, Tại thành phố Lạng S, Lò Văn L gặp một thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ) biết chỗ bán ma túy nên Lạ đã nhờ mua hộ ma túy Heroine để sử dụng, người này đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1-127.01 chở Lò Văn L đi đến khu vực phố Kỳ Lừa. Tại đây, Lò Văn L đưa 200.000 đồng cho nam thanh niên đi mua hộ được 02 gói giấy màu trắng, Lò Văn L hiểu đây là 02 gói ma túy Heroine nên cất giấu số ma túy trên vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi ngồi sau xe mô tô nam thanh niên điều khiển đi đến khu vực trước cửa nhà số 26 phố Kỳ L, phường Hoàng Văn T thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên còn nam thanh niên mua ma túy cho Lạ đã bỏ trốn. Kết quả giám định số 326/KL-PC09 ngày 15-11-2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0.182 gam (đã trừ bì). Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, BKS 35B1-127.01, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Đinh Văn T. Ngày 14-11-2020, khi mượn xe mô tô, Lạ không nói gì cho anh Truy biết việc mình sử dụng xe mô tô để đi tìm mua ma túy về sử dụng. Ngày 28-01-2021, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh Đinh Văn T. Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS, ngày 04 tháng 02 năm 20210 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lò Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo nghiện chất ma túy, không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 02 mảnh giấy màu trắng kích thước 10.5cm x 16cm; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất Novocain;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lò Văn L không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo Lò Văn L: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tòa án đã triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
ông Đinh Văn T, người chứng kiến ông Chu Văn Sằn, tại phiên tòa hôm nay ông Đinh Văn T và ông Chu Văn S vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai của ông Chu Văn S và ông Đinh Văn T, người tham gia tố tụng và kiểm sát viên không đề nghị hoãn phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Chu Văn S và ông Đinh Văn T theo quy định tại các Điều 292, 296 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 14/11/2020, tại khu vực trước cửa số nhà 26 phố Kỳ L, phường Hoàng Văn T, thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn, Lò Văn L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,182 gam chất ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Lò Văn L có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. [5] Về nhân thân: Tại bản án số 22/2008/HSST ngày 10-12-2008 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn L 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 12/9/2009, đã xóa án tích; Tại bản án số 119/2016/HSST ngày 28-9-2016 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu quyết định miễn trách nhiệm hình sự do "Hàm lượng Heroin sau khi quy đổi được trọng lượng Heroine tinh chất 0,092g", đã được xóa án tích. Hiện nay bị cáo đang nghiện chất ma túy. Do đó bị cáo có nhân thân xấu. [6] Tiền án, tiền sự: Không. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. [7] Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung. [8] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không có nghề nghiệp, nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo (biên bản xác minh ngày 22-12-2020) [9] Đối với nam thanh niên đã mua ma túy Heroine cho Lò Văn L, do bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của người đó nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. [10] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B1-127.01, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Đinh Văn T. Ngày 14-11-2020, khi mượn xe môtô, Lò Văn L không nói cho anh Đinh Văn T biết việc Lò Văn L sử dụng xe môtô để đi tìm mua ma túy về sử dụng. Ngày 28-01-2021, Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô cho anh Đinh Văn T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,142 gam Heroin và các vỏ bao gói cũ, 02 mảnh giấy màu trắng kích thước 10,5cm x 16cm; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất Novocain không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Do bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép
chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 14-11-2020.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,142 gam Heroin và các vỏ bao gói cũ; 02 mảnh giấy màu trắng kích thước 10,5cm x 16cm; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất Novocain (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 02 năm 2020).
4. Về án phí: Bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSNDTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHSCATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADSTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; Người có QLNVLQ đến VA; - Lưu: VT, Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Thịnh |