vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Ư phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Vũ Ư 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2020. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ư - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ư phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2021/HS-ST
Ngày: 01/02/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lượng.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Quân.

2. Ông Diêm Trọng Khoa.

3. Bà Trần Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Vũ Ư, sinh năm 1968; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Ngọc Trì, xã Bình Định, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ H (đã chết) và bà Ngô Thị N, sinh năm 1932; gia đình có 06 anh, chị em ruột, bị cáo là thứ 4; vợ là Ngô Thị X, sinh năm 1970 và có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Ư (do chỉ định): Ông Nguyễn Đình D- Văn phòng Luật sư Thế Gia- Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Bị hại:

1. Bà Ngô Thị X, sinh năm 1970 (vợ bị cáo); có mặt.

2. Cháu Vũ Thị Hồng Th, sinh năm 2002 (con bị cáo); có mặt.

3. Cháu Vũ Thị Mai Ch, sinh ngày 26/8/2004 (con bị cáo); vắng mặt. Do bà Ngô Thị X (mẹ đẻ) là đại diện hợp pháp.

Cùng trú tại: Thôn Ngọc Trì, xã Bình Định, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cháu Ch: Bà Đặng Thị H- Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1979; trú tại: Khu 3, thị trấn Cẩm Giàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

* Người làm chứng: Phạm Văn L, sinh năm 1989; trú tại: Thôn Ngọc Trì, xã Bình Định, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Ư kết hôn với bà Ngô Thị X và chung sống với nhau từ năm 1989. Quá trình chung sống, Ư nghi ngờ bà X có quan hệ ngoại tình nên thường X uống rượu rồi mắng chửi, đánh đập bà X và các con. Khoảng 21 giờ ngày 19/4/2020, khi bà X đang đánh răng trong nhà tắm thì Ư đi từ nhà ở xuống đứng trước cửa nhà tắm bảo bà X tối cùng Ư ra ngủ ở trang trại của gia đình. Bà X bảo với Ư đang bị ốm nên không ra trang trại ngủ được. Ư liền quay vào trong bếp lấy con dao dài khoảng 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21,5cm, mũi dao vuông có 01 lưỡi sắc (con dao gia đình vẫn thường sử dụng) quay lại đứng trước cửa nhà tắm, lúc này bà X quay mặt lại đứng đối diện và cách Ư khoảng 70cm. Ư cầm dao bằng tay phải vung lên cao chém 01 nhát theo Chều từ trên xuống trúng vào vùng thái dương đỉnh trái bà X gây ra vết thương rách da, chảy máu. Bị Ư chém, bà X vừa kêu cứu vừa đóng cánh cửa nhà tắm lại ngăn cản không cho Ư chém tiếp. Do nhìn thấy Ư đi từ nhà xuống bếp, sợ bố đánh mẹ nên Vũ Thị Hồng Th đi theo phía sau để can ngăn. Do bà X khép cửa nhà tắm nên Ư không chém tiếp được, Ư cầm dao quay lại thì thấy cháu Th chạy đến, Ư tiếp tục chém vào đầu cháu Th, cháu Th giơ tay trái lên đỡ làm lưỡi dao chém vào ngón 3, ngón 4 bàn tay trái và vùng thái dương đỉnh trái cháu Th gây nên vết thương rách da chảy máu. Bị Ư chém cháu Th kêu lên rồi ngã gục xuống nền bếp. Ư cầm dao đi ra sân. Nghe thấy tiếng cháu Th kêu bà X chạy đến đỡ cháu Th và kêu cứu. Thấy bà X kêu, các cháu Vũ Thị Mai Ch và Vũ Tiến Đế (đều là con Ư) chạy từ trong nhà ra sân thì gặp Ư cầm dao đi đến, Ư tiếp tục chém tiếp 01 nhát theo Chều từ trên xuống trúng vào vùng thái dương đỉnh trái cháu Ch, cháu Đế thấy mẹ hô lên thì chạy vào trong nhà đóng cửa. Ư cầm dao đi ra đường giao thông liên thôn và vứt con dao xuống ao của gia đình anh Phạm Văn Lượng cùng thôn. Sau đó Ư lẩn trốn ở cánh đồng thôn Ngọc Trì, đến sáng ngày 20/4/2020 thì đến trụ sở Công an xã Bình Định đầu thú, tự giao nộp 01 điện thoại Oppo F1W màu hồng đã qua sử dụng, có số thuê bao 0914.956.299, 01 áo sơ mi kẻ sọc cộc tay trên ngực áo có dấu vết màu nâu đỏ, Ư khai dấu vết màu nâu đỏ là vết máu bà X bắn vào áo khi Ư chém bà X, áo do Ư giao nộp được niêm phong ký hiệu M6.

Đối với chị X, cháu Th và cháu Ch, được anh Phạm Văn Lượng cùng mọi người đưa đến trạm y tế xã Bình Định và Trung tâm y tế huyện Lương Tài cấp cứu điều trị từ ngày 19/4/2020 đến ngày 22/04/2020 cháu Ch ra viện; còn chị X, cháu Th điều trị đến ngày 27/04/2020 cùng ra viện.

Khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án xác định là nhà ở gia đình Vũ Ư và bà Ngô Thị X ở thôn Ngọc Trì, xã Bình Định, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trường không còn nguyên vẹn do gia đình bà X tẩy rửa. Kết quả khám nghiệm hiện trường đã phát hiện và thu giữ các dấu vết như sau:

Khu vực sân: Tại vị trí cách mép bậc thang đi lên khu vực bếp 35cm cách mép cửa nhà 2,1 mét chất màu nâu đỏ và tóc dài màu đen kích thước (250x98) cm. Tại vị trí sát mép chân bể, cách chân cột sắt sát bể dùng để lợp mái bếp 5cm phát hiện chất màu nâu đỏ không rõ hình dạng rửa trôi còn sót lại. Tại tường sân phía Nam phát hiện 01 túm tóc rối. Tại mặt bậc đi vào khu công trình phụ (nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh) ở mép sân phía Tây phát hiện đám chất dung dịch màu nâu đỏ kích thước (8x5)cm. Tại vị trí mặt ngoài bể nước phía Bắc phát hiện chất màu nâu đỏ dạng phun kéo dài từ mép bể phía Đông trên diện (104 x 39)cm. Sân, thềm trước bếp có nhiều nước.

Khu vực nhà bếp: Tại góc tường phía Đông và tường phía Bắc có 01 bàn gỗ để bếp ga, dưới chân bàn có 01 vung xoong đường kính 34cm, trên mặt vung có nhiều dung dịch màu hồng rải rác trên diện (29x17)cm. Cách mép tường phía Bắc 76cm, cách mép tường phía Tây 102cm có 01 giá kim loại đường kính 32cm, giá kim loại bám dính nhiều chất màu hồng. Sàn bếp, sàn nhà tắm có nhiều nước không phát hiện dấu vết.

Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu và niêm phong các dấu vết:

Mẫu chất dung dịch màu hồng ở vung xoong( niêm phong ký hiệu M1);

Mẫu chất dung dịch màu hồng ở giá sắt trong bếp (niêm phong ký hiệu M2);

Mẫu chất màu nâu đỏ ở bậc thềm lên bếp (niêm phong ký hiệu M3);

Mẫu chất nâu đỏ và tóc tại sân (niêm phong ký hiệu M4);

Mẫu chất nâu đỏ sát mép chân bể (niêm phong ký hiệu M5);

Mẫu tóc tại tường phía Nam sân; (niêm phong ký hiệu M6);

Các mẫu dấu vết thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường và Chếc áo do Ư tự nguyện giao được gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 20/KLGĐ-PC09 ngày 15 tháng 05 năm 2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“Các sợi tóc trong 02 mẫu vật gửi giám định (Ký hiệu 4,6) ở tình trạng bị rối và có mùi hôi; Quá trình giám định phát hiện một số sợi còn chân tóc trong 02 mẫu vật (Ký hiệu 4, 6) nhưng không đủ yếu tố giám định”;

Tại Kết luận giám định số 21/KLGĐ-PC09 ngày 28 tháng 5 năm 2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“Các mẫu chất dấu vết màu nâu đỏ, màu hồng nêu trên (ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6) là máu người. Các mẫu gửi giám định không còn khả năng xác định nhóm máu”;

Về tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Ngô Thị X, cháu Vũ Thị Hồng Th và cháu Vũ Thị Mai Ch, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài xác nhận như sau:

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 04/CNTT-2020, ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Trung tâm Y tế huyện Lương Tài- Bắc Ninh chứng nhận tình trạng thương tích của bà Ngô Thị X khi vào cấp cứu, điều trị:

“Vùng thái dương đỉnh trái có vết thương dài khoảng 8cm, bờ nham nhở, sâu sát xương, chảy nhiều máu…

CT sọ não: hình ảnh vỡ xương sọ kèm có khí vùng đỉnh trái trên phim CT sọ não.”;

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 06/CNTT-2020, ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Trung tâm Y tế huyện Lương Tài- Bắc Ninh chứng nhận tình trạng thương tích khi cháu Vũ Thị Hồng Th vào cấp, cứu điều trị:

“Vùng thái dương đỉnh trái có vết thương dài khoảng 7cm, bờ nham nhở, sâu sát xương, chảy nhiều máu, đứt cơ thái dương.

Vùng trán trái có vết thương dài khoảng 5cm, bờ nham nhở, sâu 0,5cm, chảy nhiều máu.

Ngón 3,4 tay trái có vết thương dài khoảng 1cm, rỉ máu.

CT sọ não: hình ảnh vỡ xương sọ kèm có khí vùng đỉnh trái trên phim CT sọ não.”;

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 05/CNTT-2020, ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Trung tâm Y tế huyện Lương Tài- Bắc Ninh chứng nhận tình trạng thương tích khi cháu Vũ Thị Mai Ch vào cấp cứu điều trị:

“Vùng thái dương đỉnh trái có vết thương dài khoảng 3 cm, bờ sắc gọn, sâu 0,5cm, chảy nhiều máu. Không thấy dấu hiệu lún vỡ hộp sọ.”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 2257/C09- TT1 ngày 24/4/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận về tổn hại cơ thể bà Ngô Thị X :

“- Vỡ xương vùng đỉnh- thái dương trái kích thước 2,5cm: 08% (Áp dụng Mục I.2.1, Chương 1)

- Vết thương vùng đỉnh- thái dương trái đang liền sẹo: 02% (Áp dụng nguyên tắc 4 và Mục I.2, Chương 8).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Ngô Thị X tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích của chị Ngô Thị X: Tổn thương tại vùng đỉnh- thái dương trái do vật sắc gây nên. Tác động từ trái sang phải”;

Tại Bản kêt luận giám định pháp y thương tích số 2259/C09-TT1 ngày 24/4/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận về tổn hại cơ thể cháu Vũ Thị Hồng Th :

“- Vết thương vùng thái dương trái, đang liền sẹo: 02% (Áp dụng Nguyên tắc 4 và Mục I.2, Chương 8);

- Vết thương vùng trán- má trái, đang liền sẹo: 03% (Áp dụng Nguyên tắc 2 và Nguyên tắc 4 và Mục I.1, Chương 8);

- Vết thương mặt mu ngón III, IV tay trái, đang liền sẹo: mỗi vết thương: 01% (Áp dụng Nguyên tắc 4 và Mục I.1, Chương 8)

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Vũ Thị Hồng Th tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích của cháu Vũ Thị Hồng Th:

Tổn thương vùng thái dương trái và vùng trán- má trái do vật sắc gây lên. Tác động từ trái qua phải

Tổn thương tại ngón III, IV bàn tay trái do vật sắc gây nên. Tác động từ sau ra trước, từ trên xuống dưới”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 2258/C09-TT1 ngày 24/4/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận về tổn hại cơ thể cháu Vũ Thị Mai Ch:

“ Áp dụng Nguyên tắc 4 và Mục I.1, Chương 8, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vùng đỉnh- thái dương trái của cháu Vũ Thị Mai Ch tại thời điểm giám định là: 01% ( một phần trăm);

- Cơ chế hình thành thương tích của cháu Vũ Thị Mai Ch: Tổn thương vùng đỉnh- thái dương trái do vật sắc gây nên, tác động từ trái sang phải”;

Tại Công văn số 2389/C09-TT1 ngày 18 tháng 11 năm 2020 Viện khoa học hình sự Bộ Công an giải thích về kết quả giám định:

“Tại giấy chứng nhận thương tích số 06/CNTT-2020, ngày 20/4/2020 của Trung tâm Y tế huyện Lương Tài đề tên Vũ Thị Hồng Th, ghi nhận cháu Th có 04 vết thương, gồm:

+ Vết thứ nhất: vết thương vùng thái dương – đỉnh trái;

+ Vết thứ hai: Vết thương vùng trán trái;

+ Vết thứ ba: Vết thương ngón III tay trái;

+ Vết thứ tư: Vết thương ngón IV tay trái;

Đối với vết thương vùng trán trái (vết thứ hai) ghi trong hồ sơ của trung tâm y tế huyện Lương Tài, trên thực tế giám định cho thấy vết thương nằm ưu thế ở vùng má trái; do vậy, việc kết luận vết thương vùng trán- má trái là hợp lý, khách quan.

04 vết thương của cháu Th đều do vật sắc gây ra. Trong đó, đối với các tổn thương vùng đầu- mặt của cháu Th, gồm 02 vết thương do 02 lần tác động riêng biệt: vết thương vùng trán- má trái do lực tác động từ trái sang phải, hơi chếch từ dưới lên (đầu trước vết thương chếch lên trên; mép phía trên vết thương nề, nốt chỉ khâu xa); vết thương vùng thái dương trái do lực tác động từ trái sang phải, không đủ cơ sở nhận định thêm Chều hướng.

Như vậy, với 01 nhát chém không gây được 04 vết thương của cháu Th.

- Tổn thương của vùng đỉnh- thái dương trái của bà Ngô Thị X do vật sắc tác động từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.

- Tổn thương vùng đỉnh- thái dương trái của cháu Vũ Thị Mai Ch do vật sắc tác động từ trái sang phải, không đủ cơ sở nhận định thêm Chều hướng.

Con dao gửi kèm công văn có 01 lưỡi sắc và 01 sống dao. Sống dao không gây được vết thương của cháu Vũ Thị Mai Ch.”

Tại biên bản làm việc ngày 27/11/2020 Trung tâm Y tế huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đính chính: Các vết thương của chị Ngô Thị X, vết thương của cháu Vũ Thị Hồng Th có bờ mép sắc gọn.

Quá trình điều tra và truy tố, Vũ Ư đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng dao chém vào vùng đầu bà X, cháu Th và cháu Vũ Thị Mai Ch như đã nêu trên. Ngày 15/8/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh cho Vũ Ư thực nghiệm điều tra. Kết quả thực nghiệm Ư thực hiện các hành vi cầm dao chém vào đầu bà X, cháu Th và cháu Ch như Ư khai nhận.

Vũ Ư khai và chỉ thực nghiệm hành vi chém cháu Vũ Thị Hồng Th 01 nhát vào vùng đầu, chém sống dao vào đầu cháu Ch. Cháu Th khai sau khi bị Ư chém 01 nhát trúng đầu, cháu hoảng loạn ngã quỵ xuống và bị lưỡi dao Ư cầm trên tay va vào vùng trán- má trái gây nên. Căn cứ Giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm Y tế huyện Lương Tài, Bản kết luận giám định pháp y thương tích, giải thích kết quả giám định thương tích pháp y của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối các cháu Vũ Thị Hồng Th, Vũ Thị Mai Ch có cơ sở xác định: Khi Ư chém cháu Th thì cháu Th giơ tay trái lên đỡ vì vậy cháu Th bị lưỡi dao chém đồng thời vào ngón III, ngón IV bàn tay trái và thái dương- đỉnh trái. Vũ Ư chém phần lưỡi dao đỉnh- thái dương trái cháu Vũ Thị Mai Ch. Về nguyên nhân ứng dùng dao chém bà X và chém hai con là do nghi ngờ bà X có quan hệ ngoại tình và các cháu Th, cháu Ch thì bênh bà X cãi lại và có lần đánh Ư, tuy nhiên không có cơ sở.

Về hung khí là con dao Ư sử dụng gây án, CQĐT đã áp dụng các biện pháp truy tìm nhưng không có kết quả. Xác minh nguồn gốc hung khí, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh xác định được con dao nêu trên gia đình Ư mua của chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1979; HKTT: Khu 3, thị trấn Cẩm Giàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, chị Hạnh khai và giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh 01 con dao có đặc điểm tương tự như con dao chị Hạnh bán cho gia đình Ư. Cho bà X, cháu Th, cháu Ch và Ư nhận dạng, kết quả bà X, cháu Th, cháu Ch và Ư xác nhận con dao do chị Hạnh giao nộp có đặc điểm tương tự như con dao Ư sử dụng gây án.

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:

- Mẫu dấu vết trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 áo sơ mi kẻ sọc cộc tay trên ngực áo có dấu vết màu nâu đỏ và 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo F1W màu hồng đã qua sử dụng, kèm Sim điện thoại số 0914.956.299 do Ư tự giao nộp khi ra đầu thú;.

Về trách nhiệm dân sự: Bà X và cháu Th, cháu Ch không yêu cầu Ư phải bồi thường trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Ư.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 161/CT-VKS-P2 ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Vũ Ư về tội “Giết người” theo điểm a, b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi dùng dao chém vào đầu vợ và cháu Th nhưng mục đích là dọa chứ không nhằm mục đích giết người. Đối với cháu Ch bị cáo có dùng sống dao gõ vào đầu, không phải chém. Cáo trangh truy tố bị cáo tội Giết người là nặng, đề nghị HĐXX xem xét.

Bà Ngô Thị X và cháu Vũ Thị Hồng Th đều khai: Thường ngày bị cáo hay uống rượu và chửi, đánh vợ, con vô nguyên cớ. Tối ngày 19/4/2020 bị cáo đã dùng dao chém vào đầu vợ và 2 con. Bà X khai trước khi chém bị cáo có nói: “Bố giết chết hết cả nhà mày”, việc bị cáo nghi ngờ bà ngoại tình là không đúng. Tuy nhiên, bà X và cháu Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự, đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Ư, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ư phạm tội “Giết người”. Áp dụng các điểm a, b, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ư từ 13 đến 15 năn tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các sợi tóc ký hiệu M4, M6; 01 áo sơ mi kẻ sọc cộc tay, trên ngực áo có dấu vết màu nâu đỏ; 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21,5cm, mũi dao vuông có 01 lưỡi sắc; trả lại cho bị cáo Ư 01 điện thoại OPPO F1W màu hồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Nhất trí về tội danh. Tuy nhiên hậu quả chết người chưa xảy ra, thương tích ở mức độ nhẹ, bị hại xin và bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại (cháu Ch) phát biểu quan điểm: Nhất trí với luận tội của VKS, đề nghị xử phạt bị cáo nghiêm khắc.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi vợ, con và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi dùng phần lưỡi dao chém vào đầu cháu Ch, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị hại, Giấy chứng thương và Kết luận giám định có cơ sở kết luận bị cáo sau khi dùng dao chém vào đầu bà X, cháu Th, tiếp tục chém vào đầu cháu Ch. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi nhưng cho rằng truy tố tội “Giết người” là nặng. HĐXX nhận thấy: Trước khi bị cáo chém bà X, bị cáo đã hô “Bố giết chết hết cả nhà mày”, bị cáo đã dùng là con dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu của 3 bị hại đã thể hiện ý thức muốn tước đoạt tính mạng của vợ và các con bị cáo, phù hợp với lời nói của bị cáo trước khi thực hiện hành vi. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do ghen tuông vô cớ, khoảng 21 giờ ngày 19/4/2020 tại gia đình, bị cáo Vũ Ư đã dùng tay phải cầm 01 con dao dài khoảng 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21,5cm mũi dao vuông có 01 lưỡi sắc cầm chém 01 nhát vào đầu bà X (vợ bị cáo) và chém vào đầu hai con là cháu Vũ Thị Hồng Th và Vũ Thị Mai Ch. Bà X, cháu Th và cháu Ch không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hậu quả bà X bị tổn hại 10%, cháu Th tổn hại 07% và cháu Ch bị tổn hại 01% sức khỏe. Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể con người là nhằm tước đoạt mạng sống của vợ và 2 con của bị cáo, trong khi không có mâu thuẫn gì là hành vi côn đồ, trong đó cháu Vũ Thị Mai Ch chưa đủ 16 tuổi. Do đó, có căn cứ xét xử bị cáo phạm tội “Giết người” theo các tình tiết định khung quy định tại điểm a, b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là phù hợp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, đặc biệt đó lại là những người thân: vợ, con của bị cáo. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực, nguy hiểm. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo ra đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

HĐXX xét thấy, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, cùng một lúc phạm vào 03 tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với số vật chứng là mẫu vật còn lại sau giám định và những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với con dao của chị Hạnh nộp, chị Hạnh không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ư phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm a, b, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

- Xử phạt bị cáo Vũ Ư 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2020.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Ư 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy các sợi tóc ký hiệu M4, M6; 01 áo sơ mi kẻ sọc cộc tay, trên ngực áo có dấu vết màu nâu đỏ; 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21,5cm, mũi dao vuông có 01 lưỡi sắc.

- Trả lại cho bị cáo Ư 01 điện thoại OPPO F1W màu hồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 41/2021 ngày 03/12/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án.

Cỡ chữ