vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội “Vô ý làm chết người”, thời gian tử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/11/2021.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân P cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội “Vô ý làm chết người”, thời gian tử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/11/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 23 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tố.

Bà Phạm Hoàng Diễm My.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân P, sinh 14 tháng 9 năm 1981 tại B; nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Thợ cưa cây; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lâm Ph (sinh năm 1957) và bà Ngô Thị T (sinh năm 1964); vợ: Nguyễn Thị Mỹ Đ (sinh năm 1986) và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhở sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

* Bị hại: Chị Phùng Thị L (chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Phùng Văn L, sinh năm 1967 và bà Mai Thị B, sinh năm 1963 là cha và mẹ của bị hại.

Đồng trú tại: Khu phố S, phường X, thị xã H, tỉnh B.

- Anh Võ Thanh Ph, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã H, tỉnh B là chồng của bị hại, có mặt.

- Cháu Phùng Bá T, sinh ngày 18/3/2009; địa chỉ: Khu phố S, phường X, thị xã H, tỉnh B là con của bị hại.

Người đại diện hợp pháp của cháu Tòng: Ông Phùng Văn L, sinh năm 1967 và bà Mai Thị B, sinh năm 1963; đồng trú tại: Khu phố S, phường X, thị xã H, tỉnh B là ông ngoại và bà ngoại của cháu T.

- Cháu Võ Uy V, sinh ngày 11/8/2018 và Võ Ngọc Như B, sinh ngày 29/01/2020; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã H, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp của cháu V và cháu Bh: Anh Võ Thanh Ph, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã H, tỉnh B là cha ruột của cháu V và cháu B.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà B: Anh Võ Thanh Ph, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã H, tỉnh B (tại văn bản ủy quyền ngày 02/6/2021).

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố A2, phường Th, thị xã H, tỉnh B, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh B, vắng mặt.

- Bà Trần Thị H, sinh năm 1966; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã H, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/5/2021, Nguyễn Xuân P cùng Phùng Thị L, Nguyễn Thị H, Trần Thị H và Nguyễn Thị L đến khu vực đồi núi có tục danh núi Bà Thược thuộc khu phố M 1, phường Th, thị xã H, tỉnh B để khai thác cây bạch đàn. Khi tiến hành khai thác cây, Nguyễn Xuân P dùng máy cưa lốc cưa hạ một cây bạch đàn lớn có chiều cao 20,10 mét, chu vi gốc 1,50 mét. Khi cưa, P cưa phần gốc phía Tây Nam để mở miệng cho cây ngã về hướng này; tiếp đó, cưa phần gốc phía Nam và dùng lát cắt ở phần gốc phía Tây Nam kê vào để cây không ngã về hướng Nam; sau đó, P cưa phần gốc phía Đông Bắc nhưng lưỡi cưa bị kẹt vào gốc cây nên P dùng dây thừng dài 32 mét buộc vào thân cây tại vị trí cao cách đất khoảng 04 mét và bảo Phùng Thị L, Nguyễn Thị H, Trần Thị H, Nguyễn Thị L đến đứng tại vị trí cách gốc cây đang cưa khoảng 15,50 mét về hướng Nam để cầm dây kéo cây bạch đàn cho P lấy cưa ra. Do không lấy được cưa nên P đến kéo cùng thì cây bạch đàn lung lay; P đến gốc cây lấy máy cưa để tiếp tục cưa, cây bạch đàn ngã về hướng Nam. P la lớn, Nguyễn Thị H, Trần Thị H, Nguyễn Thị L bỏ chạy; riêng Phùng Thị L không chạy kịp nên bị cây ngã đập vào người dẫn đến bị thương và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn nhưng đến 11 giờ 20 phút cùng ngày thì tử vong.

Ngày 27/5/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định giám định nguyên nhân chết của Phùng Thị L và kết luận: Phùng Thị L bị suy tuần hoàn cấp do chấn thương gây vỡ tạng, đa chấn thương đã phẫu thuật điều trị không phục hồi.

Bản cáo trạng số: 78/CT-VKSHN ngày 05 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Xuân P về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vô ý làm chết người”.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại: Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã thỏa thuận giải quyết xong, không còn yêu cầu bồi thường; Về hình phạt: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Vào ngày 05/5/2021, tại khu vực đồi núi có tục danh núi Bà Thược thuộc khu phố M 1, phường Th, thị xã H, tỉnh B, trong quá trình khai thác cây bạch đàn, bị cáo Nguyễn Xuân P không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, dẫn đến cây ngã đè vào người chị Phùng Thị L làm chị L tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân P đã phạm vào tội “Vô ý làm chết người” được quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân P tại phiên tòa phù hợp với lời khai với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vô ý xâm phạm tính mạng của người khác, cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong quá trình xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo khắc phục hậu quả gây ra, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cứ trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng và phạm tội với lỗi vô ý, vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã thỏa thuận giải quyết xong, không còn yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 128, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội “Vô ý làm chết người”, thời gian tử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/11/2021.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân P cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Nguyễn Xuân P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ