vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 19/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 11/02/2021. [2] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 19-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung.

Các Hội Thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Công.

2. Bà Nguyễn Thị Diệu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Ươn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/HSST, ngày 22 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952. Anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 1987.

Tiền sự: không.

Tiền án: 01. Ngày 08/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 61/2016/HS-ST, ngày 08/9/2016; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/5/2020; Về trách nhiệm dân sự bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 35.000.000 đồng; Chưa được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 11 tháng 02 năm 2021 đến ngày 16 tháng 02 năm 2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại:

Anh Lê Vũ L, sinh năm 1980; vắng mặt có lý do.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm: không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 02 năm 2021 bị cáo Nguyễn Văn Đ đang ở nhà thì Lê Văn Phùng E, sinh năm 1975, cư trú ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh gọi điện thoại rủ bị cáo đến nhà uống bia, bị cáo đồng ý và kêu Phùng E đến nhà bị cáo rước. Do Phùng E có uống rượu, bia nên không đi rước, mà nhờ vợ là Hà Thị T, sinh năm 1980 rước dùm. Chị T điều khiển xe mô tô đến chở bị cáo về nhà thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại đây, bị cáo uống bia cùng với Phùng E, bị cáo uống khoảng 5 đến 6 chai bia thì nghỉ. Sau đó bị cáo nhờ Phùng E chở đi coi đá gà, Phùng E đồng ý nên điều khiển xe mô tô chở bị cáo đến đầu đường đất giáp lộ nhựa đường huyện 02 thuộc ấp 8A, xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, bị cáo xuống xe đi bộ vào đường đất đến điểm đá gà, còn Phùng E điều khiển xe mô tô về nhà. Do không đủ tiền tham gia đá gà, nên bị cáo đi bộ trở ra theo đường củ. Bị cáo đi bộ đến một ngôi nhà của người dân phía trước có sân xi măng giáp với đường đất (đi ra lộ nhựa đường huyện 02), bị cáo thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 84L1 – 279.32, loại xe WaVe ZX màu đỏ - đen dựng trước sân. Bị cáo đi đến và ngồi lên xe thì phát hiện xe nổi sẳn đèn ở số 2, bị cáo liền nẩy sinh ý định lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 84L1 – 279.32. Liền lúc này bị cáo lấy nón bảo hiểm có sẵn trên xe đội lên rồi đề máy xe chạy về hướng chợ huyện Càng Long. Vào khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 11 tháng 02 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh nhận được tin báo của anh Lê Vũ L, sinh năm 1980, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh bị mất 01 xe mô tô biển số 84L1-279.32, nhãn hiệu Honda, loại xe WAVE ZX, màu sơn đỏ - đen. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an huyện Càng Long chốt chặn trên tuyến Quốc lộ 53 thuộc khóm 2, thị trấn Càng Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh phát hiện bị cáo điều khiển xe mô tô có đặc điểm nói trên, tiến hành ra tín hiệu dừng phương tiện, bị cáo không dừng xe mà tăng ga tẩu thoát về hướng tỉnh Vĩnh Long. Đến khu vực khóm 2, thị trấn Càng Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Ngày 11/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long yêu cầu định giá tài sản bị mất trộm của anh Lê Vũ L.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-ĐGTS ngày 13 tháng 02 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 xe mô tô biển số 84L1 – 279.32, nhãn hiệu Honda, số loại: WAVE ZX, màu sơn: đỏ - đen, số khung: 09075Y107567, số máy: HC09E5166781, tài sản đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị xâm hại là 8.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Tiền VNĐ: 600.000 đồng.

- 01 xe mô tô biển số 84L1 – 279.32, nhãn hiệu Honda, số loai: WAVE ZX, màu sơn: đỏ - đen, số khung: 09075Y107567, số máy: HC09E5166781;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, loại bàn phím màu đen, số IMEI 1: 863314035596734, số IMEI 2: 863314035696831;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu vàng đồng, số IMEI 1: 867593036208797, IMEI 2: 867593037208796.

- 01 đoạn kim loại màu trắng, một đầu có độ công hình chữ L, có ghi chữ CHROME VANADIUM;

Ngày 06/3/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long trả lại cho bị hại Lê Vũ L 01 xe mô tô biển số 84L1 – 279.32, nhãn hiệu Honda, số loại: WAVE ZX, màu sơn: đỏ - đen, số khung: 09075Y107567, số máy: HC09E5166781.

Vật chứng còn lại:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, loại bàn phím màu đen, số IMEI 1: 863314035596734, số IMEI 2: 863314035696831;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu vàng đồng, số IMEI 1: 867593036208797, IMEI 2: 867593037208796.

- 01 đoạn kim loại màu trắng, một đầu có độ công hình chữ L, có ghi chữ CHROME VANADIUM;

Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKS-HS, ngày 20/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Đ thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và thừa nhận có lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ - đen của anh Lê Vũ L, khi điều khiển xe đến thị trấn Càng Long thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 11/02/2021.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Ngoài ra, vị còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Qua quan điểm của vị Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin Hội đồng xét xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại có mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa hôm nay là là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cùng và người liên với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long thu thập có được trong hồ sơ vụ án.

Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe để tham gia lao động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, nhưng bị cáo không làm được việc này, lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo lấy trộm tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và chơi game bắn cá nên đã lao vào con đường phạm tội. Trước đó bị cáo từng có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo biết việc lấy trộm tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật, đáng lẽ ra bị cáo phải biết sửa chữa lỗi lầm, làm một công dân tốt, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng bị cáo không làm được việc này mà tiếp tục vi phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người bị hại mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, hành vi của bị cáo là thể hiện bị cáo xem thường pháp luật.

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật.

Nhằm góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt hình sự bị cáo Nguyễn Văn Đ là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ: là sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: ngày 08/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Đến ngày 11/02/2021 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng:

- Tiền VNĐ: 600.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, loại bàn phím màu đen, số IMEI 1: 863314035596734, số IMEI 2: 863314035696831;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu vàng đồng, số IMEI 1: 867593036208797, IMEI 2: 867593037208796.

Là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn Được không liên quan đến hành vi phạm tội, nghĩ nên trả cho bị cáo Được.

- 01 đoạn kim loại màu trắng, một đầu có độ công hình chữ L, có ghi chữ CHROME VANADIUM; không còn giá trị sử dụng, tuyên tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 327, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 11/02/2021.

[2] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[3] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

*Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ:

- Tiền VNĐ: 600.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, loại bàn phím màu đen, số IMEI 1: 863314035596734, số IMEI 2: 863314035696831;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu vàng đồng, số IMEI 1: 867593036208797, IMEI 2: 867593037208796.

* Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 đoạn kim loại màu trắng, một đầu có độ công hình chữ L, có ghi chữ CHROME VANADIUM;

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.

Án xét xử công khai cáo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ