vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 05/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm g, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn Q 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày: 05-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà ông: Nông Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nông Ích Cầu.

Nơi công tác: Đảng ủy thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm, Cao Bằng; nguyên (Bí thư huyện Đoàn thanh niên huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng).

2. Bà: Lưu Bích Hoàn.

Nơi công tác: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Văn San - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đàm Thanh Tình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. Tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2021.

* Đối với bị cáo: Trương Văn Q; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 23/8/1994; nơi sinh: Bảo Lâm, Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nà V, Yên Th, Bảo L, Cao Bằng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chỉ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 09/12; họ tên cha: Trương Văn Th, sinh năm 1968; họ tên mẹ: Trương Thị T, sinh năm: 1972; anh em ruột; bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Lý Thị Đ, sinh năm 1995; con; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018; nhân thân: Xấu; tiền án: Bị cáo có 01(Một) tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", bị Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tuyên phạt 06 (Sáu) tháng tù theo Bản án số 42/2019/HS-ST, ngày 25/12/2019; tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 29/12/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

* Người bị hại:

1. Ma Văn D, sinh ngày 01/9/2002; Nơi cư trú: Tổng P, Nam Q, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt có lý do).

2. Lầu Văn T, sinh ngày 06/02/2003; Nơi cư trú: Nà M, Mông A, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt có lý do).

3. Triệu Sào N, sinh ngày 11/4/2004; Nơi cư trú: Bản L, Thái S, Bảo L, Cao Bằng (Có mặt).

4. Triệu Phụ Tr, sinh ngày 16/6/1989; Nơi cư trú: Vằng V, Thái H, Bảo L, Cao Bằng (Có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại (Triệu Sào N): Bà Lê Thị Dịu;

Nơi công tác: Trường Trung học phổ thông huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt có lý do).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lục Văn Đ, sinh ngày 18/02/1982; Nơi cư trú: Bản B, Lý B, Bảo L, Cao Bằng (Có mặt).

2. Lầu Văn C, sinh ngày .../.../1990; Nơi cư trú: Nà M, Mông A, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt có lý do).

3 Anh Thị V, sinh ngày .../.../1982; Nơi cư trú: Tổng P, Nam Q, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt có lý do).

* Người làm chứng:

1. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Bản B, Lý B, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt).

2. Chu Văn Ch, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Bản B, Lý B, Bảo L, Cao Bằng (Vắng mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn Q: Bà Hoàng Thị Diệp Hảo.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 12 năm 2020, Trương Văn Q một mình đi từ nhà riêng tại Yên Thổ, Bảo Lâm đến thị trấn Pác M, Bảo L, tỉnh Cao Bằng. Đến khoảng 08 giờ 00' ngày 18/12/2020, Q một mình đi qua dãy nhà trọ của học sinh gần trường Nội trú huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng, thấy trước cửa có nhiều xe máy để đó Q quan sát xung quanh không thấy có người liền nảy sinh ý định trộm xe máy. Q lấy từ trong túi áo bên phải ra một chiếc chìa khoá nhãn hiệu Việt Tiệp tiến đến gần xe máy hiệu YAMAHA Sirius màu bạc, đen BKS 11M1- 01284 của Ma Văn D: Trú tại Tổng phườn, xã Nam Q, huyện Bảo L, tra thử chìa khoá Việt Tiệp vào ổ khoá điện, do ổ khoá điện xe máy bị lỏng nên Q mở điện, nổ máy và một mình điều khiển xe máy đi đến xóm Khẩu C, xã Nam C, huyện Bảo L, Cao Bằng mục đích đem xe máy đem bán lấy tiền để mua ma túy (Heroine) sử dụng. Trên đường Q gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) có biểu hiện giống người nghiện ma tuý, qua nói chuyện Q nhờ người đàn ông trên tìm nơi tiêu thụ xe máy vừa trộm được.

Trên đường đi Q thấy 01 xe máy dựng bên đường, trên xe máy có 01 con gà mái nhốt trong lồng tre, để trên xe máy, quan sát sung quanh không có ai nên Q lấy trộm cả lồng và con gà rồi tiếp tục đi tiếp, do không tìm được nơi tiêu thụ xe máy Q và người đàn ông trên đã quay, lại bán con gà cho một người đàn ông (không rõ họ tên) ở xóm Khẩu Cắm được số tiền là 140.000 đồng, bán được gà Q đưa cho người đàn ông đi theo 100.000 đồng, để đi mua Heroine về cùng nhau sử dụng, còn lại 40.000 đồng Q dùng để mua xăng, đến tối cùng ngày người đàn ông đi theo dẫn Q đến ngủ ở một căn nhà không rõ thuộc xóm nào, đến sáng ngày 19/12/2020 Q tiếp tục đi tìm nơi tiêu thụ để bán xe máy nhưng không ai mua, đến tối Q được người đàn ông dẫn đi ngủ tại căn nhà khác. Khoảng 08 giờ 00' ngày 20/12/2020, Q một mình điều khiển xe máy đến chơi nhà Hoàng Văn Đ tại Bản B, Lý B, Bảo L sau đó cùng Đ uống rượu tại quán gần nhà, với ý định tìm nơi bán xe máy, lúc này Q ra khỏi quán một mình dắt xe máy đi một đoạn đường, sau đó dùng tay vặn ốc, tháo biển kiểm soát và lấy từ bên dưới yên xe máy một chiếc khăn mặt màu trắng quấn biển kiểm soát lại, để lại bên cạnh lề đường, mục đích không để lộ nguồn gốc tài sản, xong việc Q quay lại quán tiếp tục uống rượu với Đ lúc này có Chu Văn Ch là người cùng xóm đến chơi, trong khi uống rượu Q nhờ Ch giúp tìm nơi đem xe máy đi bán. Ch có hỏi về nguồn gốc xe máy, Q nói là xe máy của Q, biển kiểm soát đã cầm cố tại tỉnh Bắc Ninh và có ý định bán xe máy với giá 3.000.000 đồng, Ch đồng ý cùng Q lấy xe máy đi theo hướng xóm Nà P, Lý B, Bảo L, Ch có vào các hiệu sửa xe máy để giao bán xe, nhưng không ai mua. Sau đó, cả hai cùng quay lại quán tiếp tục uống rượu và Q về nhà Đ ngủ, còn Ch ở lại quán chơi Bi-a đến 20 giờ 00' cùng ngày. Lúc sau Q rủ Đ quay lại quán mục đích gặp Ch, tiếp tục nhờ Ch giúp hỏi xem ai có nhu cầu mua xe máy, Ch đồng ý rồi dẫn Q đến gặp anh Lục Văn Đ cùng xóm Bản B, Lý B, Bảo L đang ngồi uống nước tại quán, hỏi anh Đ có mua xe máy không, Đ có hỏi về nguồn gốc xe máy và giá bán xe, Q nói với Đ là xe máy của Q, biển kiểm soát đã cầm cố tại Bắc Ninh và muốn bán xe với giá là 3.000.000 đồng. Đ xem qua xe máy và thỏa thuận giá bán với Q với số tiền là 1.800.000 đồng, tại đó do Đ không có đủ tiền, nên trả trước cho Q 1.000.000 đồng, Q đưa chìa khoá xe máy cho Đ, nhận tiền xong Q nhờ Ch đưa xuống thị trấn Pác Miầu tìm mua Heroine với một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ); khi mua được Heroine cả hai cùng chia nhau sử dụng ma túy và quay lại quán, tại Quán Đ trả tiếp cho Q số tiền 500.000 đồng, nhậ tiền xong Q về nhà Đ ngủ.

Khoảng 08 giờ 00' ngày 21/12/2020, Q và Đ đến quán gần nhà Đ uống nước, tại đây Đ gặp lại Q và trả nốt số tiền còn lại là 300.000 đồng, nhận tiền xong Q đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đi về thị trấn Pác M, Bảo L chơi. Về phần Đ khi đã trả đủ số tiền mua xe máy cho Q anh Đ bước bộ đi qua quán bán hàng một đoạn đường, quan sát bên đường thấy một bọc hình chữ nhật được quấn bằng khăn màu trắng đặt bên lề đường, Đ mở ra xem thấy bên trong là một biển kiểm soát xe máy có số 11M1-01284, sau đó Đ mang biển kiểm soát trên về nhà. Cùng ngày, ông Ma Văn Nguyên trú tại: Nà Rình, Nam Quang, Bảo Lâm là người có quan hệ dòng họ với ông Ma Văn Lê (bố đẻ Ma Văn D) đến xóm Bản B, Lý B, Bảo L có nhìn thấy Đ điều khiển xe máy giống về đặc điểm với xe máy của gia đình ông Lê bị mất trộm vào ngày 18/12/2020, ông Nguyên liền mượn Giấy đăng ký xe máy của gia đình ông Lê đến gặp Đ để đối chiếu số khung, số máy. Qua đối chiếu hoàn toàn trùng khớp với giấy tờ xe, đồng thời biển kiểm soát Đ nhặt được cũng chính là biển kiểm soát của xe máy gia đình ông Lê. Đến ngày 25/12/2020 Lục Văn Đ đến trụ sở Công an huyện Bảo L để trình báo và tự nguyện giao nộp xe máy, biển kiểm soát và chìa khoá để phục vụ công tác điều tra.

Tiếp theo khoảng 08 giờ 00' sáng ngày 24/12/2020, Q một mình đi bộ qua mỏ nước Khu 1, khi qua dãy nhà có phòng trọ học sinh gần sân vận động, thuộc thị trấn Pác M, Bảo L quan sát thấy phòng trọ của Lầu Văn T trú tại: Nà M, Mông A, Bảo L và Triệu Sào N trú tại: Bản L, Thái S, Bảo L thấy phòng trọ không đóng cửa nên Q đi vào phòng trọ, lúc này thấy không có ai ở trong phòng. Q quan sát xung quanh phòng thấy 02 điện thoại di động màn hình cảm ứng, trong đó 01 điện thoại Samsung Galay Prime màu đen của (Tu); 01 điện thoại HuaWei Nova 2i của (Nần) và hai chìa khoá xe máy để trên giường nên đã nảy sinh ý định trộm hai điện thoại và chìa khoá xe máy, Q đã lấy hai điện thoại bỏ vào túi áo và lấy một chìa khoá xe máy đi ra ngoài sân phòng trọ mở khoá được chiếc xe máy Honda Wave RSX màu xanh, đen, trắng BKS: 11M1-01612 của Lầu Văn T được anh trai là Lầu Văn C cho mượn để sử dụng, rồi quay lại phòng trọ lấy trộm một mũ bảo hiểm trùm màu đen hiệu Mrvel để đội và điều khiển xe máy đi về hướng Bác Mê, Hà Giang, khi Q điều khiển xe đến Vằng V, Thái H, Bảo L thì gặp Dương Văn V nhà ở Bản Đ, Yên Th, Bảo L, Q bán chiếc điện thoại Huawei cho V với giá 500.000 đồng, khi bán Q nói với V là điện thoại của Q, sau đó Q đi xe máy vượt qua biển báo địa phận Bắc Mê, Hà Giang được khoảng 07 mét thì dừng lại, mượn được 01 kìm và 01 tô vít của người đi qua đường tháo phần chắn bùn phía trước và toàn bộ yếm xe, vỏ nhựa hai bên xe cùng 02 gương chiếu hậu, cụm đèn hậu phía trước và biển kiểm soát rồi ném toàn bộ xuống Sông Gâm. Sau đó, Q quay lại thị trấn Pác Miầu chơi và ngủ tại Đình chợ, đến sáng thức dậy thì không thấy mũ bảo hiểm.

Đến 19 giờ 00' ngày 28/12/2020, Q điều khiển xe máy trộm được đi từ thị trấn Pác M, Bảo L đến xóm Vằng V, Thái H, Bảo L mục đích trộm cắp tài sản, khi đến nhà anh Triệu Phụ Tr quan sát thấy nhà không có người, Q đi vào gầm sàn nhà nhìn thấy một máy thái chuối màu xanh có gắn mô tơ điện màu đỏ để gần chuồng lợn nên đã lấy trộm, Q vác máy thái chuối ra buộc lên đuôi yên xe máy bằng dây cao su có sẵn để dưới yên xe rồi chở lên thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo L tìm nơi tiêu thụ, đến cây xăng Bản Đe, thị trấn Pác M, Bảo L thì bị anh Lầu Văn C trú tại: Nà M, Mông A, Bảo L nhận ra chiếc xe máy Honda Wave RSX Q đang điều khiển là xe của mình cho Tu mượn bị mất trộm, nên truy đuổi, thấy có người truy đuổi Q điều khiển xe máy vào đường đi xã Quảng L, Bảo L được một đoạn thì bị bắt giữ đưa đến Công an huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng.

Tại các Kết luận định giá tài sản số 18, ngày 27/01/2021 và số 36, ngày 24/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng, kết luận: 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, có giá 2.200.000 đồng; 01 điện thoại Huawei Nova 2i màu đen màn hình cảm ứng đã qua sử dụng có giá 1.500.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, xe đã qua sử dụng có giá 6.000.000 đồng; 01 máy thái chuối có gắn mô tơ điện màu đỏ bên ngoài đã qua sử dụng, có giá 1.150.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm, nhãn hiệu Marvel có giá 300.000 đồng; 01 con gà có trọng lượng 1,2 kg, có giá 156.000 đồng; chắn bùn trước của xe máy có giá 200.000 đồng; yếm, vỏ hai bên xe máy có giá 2.700.000 đồng; 02 gương chiếu hậu của xe máy có giá 200.000 đồng; cụm đèn chiếu hậu xe máy có giá 450.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 23.831.000 đồng, (bằng chữ: Hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Q đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của ban bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các tài sản là vật chứng trong vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng tạm giữ, gốm có: 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX không có vỏ bọc bên ngoài, không có biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu, không có cụm đèn hậu phía sau; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu bạc, đen; 01 biển kiểm soát xe máy có số 11M1- 01284; 01 máy thái chuối màu xanh lá cây, có gắn mô tơ điện màu đỏ bên ngoài. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L đã ra quyết định xử lý vật chứng trên, hoàn trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp: Lầu Văn T, Lầu Văn C, Triệu Phụ Tr, Anh Thị V là có căn cứ Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét thêm.

Đối với 01 chìa khoá nhãn hiệu Việt Tiệp, 01 mũ bảo hiểm trùm màu đen, nhãn hiệu Marvel, bị cáo Q đã làm rơi (bị mất) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L không tiến hành thu giữ được. Đối với 01 con gà mái khoảng 1,2kg, bị cáo đã trộm tại xóm Khẩu Cắm, Nam Cao, Bảo Lâm đã bán cho một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ), và chiếc điện thoại nhãn hiệu Huawei Nova 2i màu đen bị cáo đã bán cho anh Dương Văn V. Qua xác minh V không có mặt tại địa phương, bị cáo cũng không biết rõ đặc điểm của người mua gà nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L không tiến hành thu giữ đối với các vật chứng trên trong vụ án.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn Q, phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự đề nghị:

+ Xử phạt bị cáo Trương Văn Q từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù;

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại Triệu Sào N số tiền 1.500.000 đồng, bằng giá trị của 01(Một) điện thoại Huawei Nova 2i và bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn Đ số tiền 1.800.000 đồng, số tiền ông Đ mua lại xe máy Yamha Sirius.

+ Về hướng xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chìa khóa xe máy in dòng chữ Honda.

+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

* Ý kiến của những người bị hại Triệu Sào N tại phiên tòa trình bày: Về trách nhiệm dân sự, đối với tài sản bị cáo lấy trộm đi bán, tôi yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiền theo giá định giá mà Hội đồng đã định giá, về hình phạt tù do Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn Đ trình bày như sau: Tại phiên toà hôm nay tôi chỉ yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền 1.800.000 đồng mà tôi đã mua xe với bị cáo, khi tôi mua tôi không biết là xe máy do bị cáo trộm cắp mà có, nay tôi đã tự nguyện bàn giao chiếc xe máy cho Cơ quan Công an huyện Bảo L. Ngoài ra về hình phạt tù do Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

*Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Trương Văn Q có ý kiến như sau: Về nội dung diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tôi nhất trí đối với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không ý thức hết hậu quả của hành vi gây ra, nhận thức hiểu biết pháp luật hạn chế, nên nảy sinh thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất do Kiểm sát viên đề nghị, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Từ ngày 18/9122020 đến ngày 28/12/2020, Trương Văn Q đã có hành vi thực hiện nhiều lần một mình lén lút, trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khoảng 08 giờ 00' ngày 18/12/2020, bị cáo Q trộm 01 xe máy YAMAHA Sirius màu bạc, đen BKS 11M1- 01284 của Ma Văn D có trị giá 9.000.000 đồng, bị cáo trộm tại Khu 1, thị trấn Pác M, Bảo L. Chiều cùng ngày, bị cáo trộm 01 con gà tại Khẩu Cắm, Nam Cao, Bảo Lâm có trọng lượng khoảng 1,2kg có trị giá là 156.000 đồng không rõ chủ sở hữu.

Khoảng 08 giờ 00' ngày 24/12/2020, bị cáo Q trộm 01 xe máy Honda Wave RSX màu xanh, đen, trắng BKS: 11M1-01612, trị giá 6.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, trị giá 2.200.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm trùm màu đen, nhãn hiệu Marvel trị giá 350.000 đồng của Lầu Văn T; và 01 điện thoại di động Huawei Nova 2i trị giá 1.500.000 đồng của Triệu Sào N.

Khoảng 19 giờ 00' ngày 28/12/2020, bị cáo trộm một máy thái chuối màu xanh có gắn mô tơ điện màu đỏ tại Vằng Vạt,Thái Học, Bảo Lâm có trị giá 1.150.000 đồng của anh Triệu Phụ Tr.

Tổng trị giá các tài sản mà bị cáo Q đã trộm cắp là: 23.831.000 đồng, (bằng chữ: Hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với tang vật vụ án cũng như Kết luận định giá tài sản.

Hành vi của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng; tuy nhiên, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, vì muốn có tiền để mua Heroine sử dụng thỏa mãn bản thân, bị cáo đã nhiều lần một mình lén lút thực hiện hành vi phạm tội, trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi trên gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

"Điều 173. Trộm cắp tài sản quy định như sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ 06 tháng đến 03 năm":

........"

. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trương Văn Q có nhân thân xấu, được bố mẹ nuôi dưỡng cho ăn học đến lớp 09/12 thì bỏ học, trong quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động, thường xuyên đua đòi, giao du với các đối tượng xấu trên địa bàn, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi dân sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện; hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ mục đích vụ lợi, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, xét mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhiều lần một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đem bán, mục đích có tiền mua ma túy (Heroine) để sử dụng thỏa mãn bản thân. Vào ngày 25/12/2019 đã bị Toà án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Cao Bằng tuyên xử 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, bị cáo Q không đủ điều kiện để được hưởng án treo; do đó, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm mục đích bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn luyện, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Trong quá trình điều tra bị cáo Q đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi bản thân đã thực hiện.

Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm (điểm g, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự).

Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự);

Trong vụ án này:

- Đối với người đàn ông là đồng phạm với Q trộm một con gà tại Khẩu Cắm, Nam Cao, Bảo Lâm và người đàn ông mua gà, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của những người này, Q được dẫn đi ngủ tại các ngôi nhà khác nhau vào buổi tối nên không nhớ đường, không biết nhà của ai nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L không có thông tin để xác minh, truy tìm xử lý là có căn cứ.

- Đối tượng Chu Văn Ch giúp Q tìm nơi tiêu thụ xe máy, Lục Văn Đ mua xe máy do phạm tội mà có với Q, qua điều tra xác định Ch và Đ không biết nguồn gốc và phương thức chiếm đoạt xe máy của bị cáo, do đó không có dấu hiệu đồng phạm hay phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Việc người bị hại Triệu Sào N khai báo có cất 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, trong ốp của chiếc điện thoại Huawei Nova 2i, qua điều tra, bị cáo Q khai có làm rơi điện thoại, ốp điện thoại màu trắng bị bung ra, khi bị cáo nhặt điện thoại lên không thấy có tờ tiền nào, Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L chỉ căn cứ vào lời khai của bị hại Nần không đủ căn để xử lý bị cáo vè hành vi trên là có căn cứ.

- Đối tượng Dương Văn V, người đã mua chiếc điện thoại Huawei Nova 2i với bị cáo, qua xác minh hiện nay V không có mặt tại địa phương, đồng thời V không biết nguồn gốc và phương thức chiếm đoạt điện thoại của bị cáo, do đó không có dấu hiệu đồng phạm hay phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q bồi thường thiệt hại cho người bị hại Triệu Sào N số tiền 1.500.000 đồng, tương ứng với trị giá 01(Một) điện thoại Huawei Nova 2i và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lục Văn Đ số tiền 1.800.000 đồng, số tiền Đ mua lại xe máy Yamha Sirius. đối với số tiền trên bị cáo Q chưa thực hiện hoàn trả được khoản tiền nào cho người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; do vây, bị cáo Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản tiền chưa thi hành, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trong thơi gian chuẩn bị xét xử bị hại Lầu Văn T đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đối với các tài sản tôi bị mất trộm, người bị hại đã nhận lại đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo; bị hại Ma Văn D không yêu cầu gì đối với bị cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Anh Thị V và Lầu Văn C không yêu cầu đối với bị cáo và đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

. Hướng xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) chìa khóa xe máy in dòng chữ Honda, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với các tài sản, vật chứng vụ án, vào ngày 05 tháng 3 năm 2021 Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại cho các bị hại và chủ sở hữu hợp pháp toàn bộ các tài sản có liên quan, các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm đối đối với bị cáo

. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và án phí là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”;

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm g, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn Q 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại Triệu Sào N số tiền 1.500.000 đồng, (bằng chữ: Một triệu năm trăm nghìn đồng) và bồi thường cho anh Lục Văn Đ số tiền 1.800.000 đồng, (bằng chữ: Một triệu tám trăm nghìn đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(Một) chìa khóa xe máy in dòng chữ Honda.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Văn Q phải chịu 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ