vanban.org

Bản án 16/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Nh về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Nh được ly hôn với anh Dương Văn L. Về con chung: Giao con chung tên Dương Gia Bảo L, sinh ngày 15/10/2013 cho chị Phạm Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Nh về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28-5-2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Mỳ

2. Bà Hoàng Thị Hồng Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 492/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Tổ A, Ấp X, xã Xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm 1985;

Địa chỉ thường trú: Tổ A, Ấp X, xã Xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở hiện nay: Phân trại K1, Trại giam Xuân Lộc, Cục C10- Bộ Công an.

(Chị Nh, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/12/2020, các bản khai nguyên đơn chị Phạm Thị Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nh và anh L chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Xã V, huyện V cấp chứng nhận kết hôn vào ngày 19/3/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L không chăm lo cho gia đình một mình chị gánh vác nuôi con. Đến tháng 11/2016, anh L bị kết án và hiện nay đang phải chấp hành án tại Phân trại K1, Trại giam Xuân Lộc, Cục C10- Bộ Công an. Nay chị Nh không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Gia Bảo L, sinh ngày 15/10/2013, khi ly hôn chị Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 23/3/2021 bị đơn anh Dương Văn L trình bày:

Anh L và chị Nh chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xã V, huyện V, thời gian chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn; tuy nhiên, từ năm 2016 anh L phải chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc nên không có điều kiện chăm sóc vợ, con. Nay chị Nh yêu cầu được ly hôn thì anh L đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Gia Bảo L, sinh ngày 15/10/2013, anh L đồng ý giao con cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn; tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Dương Văn L đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt và cam đoan không thắc mắc khiếu nại gì về sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

* Về tố tụng:

- Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ là đúng quy định.

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và đương sự là đúng quy định.

* Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; về con chung: Giao con chung cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Nh khởi kiện anh Dương Văn L yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con, bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã Xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Về quan hệ pháp luật: Chị Nh yêu cầu ly hôn với anh L, yêu cầu được nuôi con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nh và anh L chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 13/3/2013, căn cứ các Điều 11, 12, 13, 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị Nh và anh L nảy sinh mâu thuẫn, từ năm 2016, anh L bị kết án và phải đi chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc không có điều kiện chăm sóc gia đình. Tại biên bản lấy L khai ngày 23/3/2021, anh Dương Văn L đồng ý ly hôn với chị Nh cho thấy tình cảm vợ chồng anh chị đã không còn. Hội đồng xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nh và anh L là có thật, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị Nh về việc ly hôn với L là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Chị Nh và anh L có 01 con chung tên Dương Gia Bảo L, sinh ngày 15/10/2013; chị Nh yêu cầu được nuôi con chung sau ly hôn và anh L đồng ý do điều kiện hiện nay anh L đang phải chấp hành án tại trại giam. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự phù hợp quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung và tình hình hiện của anh L nên ghi nhận, giao con chung cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết quyết nên không đặt ra xem xét.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Phạm Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 11, 12 ,13, 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 56, 57, 81, 82 , của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Nh về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Nh được ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Giao con chung tên Dương Gia Bảo L, sinh ngày 15/10/2013 cho chị Phạm Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Dương Văn L không trực tiếp nuôi dưỡng nhưng được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết quyết nên không đặt ra xem xét.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003488 ngày 11/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị Nh đã nộp đủ án phí.

Các đương sự vắng được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ