vanban.org

Bản án 16/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lư Thị T (T) và anh Ngô Văn T.

Về án phí: Chị Lư Thị T (T) phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: 31AA/2021/0003766, ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh. Án xử công khai sơ thẩm, anh Ngô Văn T được quyền kháng cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THỦY-TUẤN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lư Thị T (T) và anh Ngô Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/12/2021
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Thùy,

2. Bà Nguyễn Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2021/TLST- HNGĐ, ngày 15/11/2021, về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST- HNGĐ, ngày 15/12/2021, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lư Thị T (T), sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh T, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ngô Văn T sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Q, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 16/7/2021, đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22/11/2021 nguyên đơn chị Lư Thị T (T), trình bày: Chị và anh T trước đây yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Q vào ngày 19/3/2018. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung cùng mẹ anh T tại thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Q. Trong quá trình chung sống, do không hợp tính tình, vợ chồng chung sống được 09 ngày mà gây gỗ, xúc phạm nhau nên chị bỏ về quê ở thôn B, xã L, huyện P, tỉnh T; vợ chồng sống ly thân kể từ đó cho đến nay, chấm dứt quan hệ, không ai quan tâm đến ai. Hiện tại chị T xác định tình cảm giữa chị và anh T thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì lý do sức khỏe cũng như dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp chị Thủy không thể tham gia giải quyết vụ án nên làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn qua bản tự khai; phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa, anh Ngô Văn T trình bày: Anh hoàn toàn đồng ý như đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị T về quá trình tìm hiểu và tự nguyện kết hôn cũng như mâu thuẫn của vợ chồng trong thời gian chung sống, nay Anh xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, vì mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống hơn nữa vợ chồng sống ly thân đã lâu nên tình cảm thực sự không còn, không ai còn quan tâm đến ai nên anh nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị Lư Thị T.

Về con chung, anh cũng thừa nhận vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lư Thị T (T) có đơn xin xét xử vắng mặt; Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chị Thủy vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt một bên đương sự theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết quan hệ tranh chấp: Chị Lư Thị T (T) yêu cầu giải quyết ly hôn anh Ngô Văn T; anh T có địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Q. Vì vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên “Tranh chấp về ly hôn” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lư Thị T (T) và anh Ngô Văn T đăng ký kết hôn với nhau ngày 19/3/2018 tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Q là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình mẹ anh T tại thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Q, vợ chồng bắt đầu sống chung đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không có niềm tin đối với nhau, dẫn đến vợ chồng sống được 9 ngày thì chị T (T) đã bỏ về quê; vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Chị T đã được Tòa án thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kể cả giấy triệu tập phiên tòa được tống đạt hợp lệ nhưng chị T vẫn không có mặt. Chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có nguyện vọng được ly hôn. Anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và chấp nhận ly hôn theo yêu cầu ly hôn chị T.

Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị Lư Thị T (T), anh Ngô Văn T chưa có con chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lư Thị T (T) phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lư Thị T (T) và anh Ngô Văn T.

2.Về án phí: Chị Lư Thị T (T) phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: 31AA/2021/0003766, ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Ngô Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2021); chị Lư Thị T () có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ