- Tranh chấp gì? án dân sự — "Võ Thị Kim Chinh - Hồ Ngọc Châu, mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮKLẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2021/DSST Ngày 05/5/2021. V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Đưng Knul; Bà Lưu Thị Hằng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021 ngày 15/4/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim C - Sinh năm 1971
Trú tại: Tổ dân phố 17, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Ngọc Ch – Sinh năm 1971
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H
Đều trú tại: Thôn 18, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2020, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Võ Thị Kim C trình bày:
Bà và vợ chồng ông Hồ Ngọc Ch, bà Nguyễn Thị Thu H có mối quan hệ mua bán gạo theo hình thức gối đầu đã nhiều năm, lấy hàng chuyến sau thì trả tiền hàng chuyến trước. Mỗi lần giao hàng (gạo) thì hai bên đối chiếu số gạo và quy ra tiền, hai bên ký xác nhận ghi vào sổ. Tuy nhiên, ông Ch, bà H nhiều lần thanh toán không đúng hạn, dẫn đến số tiền nợ mua gạo lên đến 145.000.000đồng; khi bà yêu cầu thanh toán dứt điểm, thì ông Ch, bà H né tránh chấm dứt việc lấy gạo và không thanh toán tiền nợ. Sau nhiều lần không đòi được nợ nên bà đã làm đơn gửi Công an xã Ea Bar nhờ giải quyết.
Ngày 17/11/2020 tại Công an xã Ea Bar ông Hồ Ngọc Ch ký biên bản thỏa thuận xác nhận nợ số tiền 145.000.000đồng và cam kết ngày 17 hàng tháng ông Ch trả 5.000.000đồng, cho đến khi trả hết nợ nhưng ông Ch vẫn không thực hiện.
Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn giải quyết buộc ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả số nợ 145.000.000đồng và bà không yêu cầu tính lãi suất.
Về chi phí giám định: Bà yêu cầu ông Hồ Ngọc Ch phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Yêu cầu ông Ch, bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và chi phí giám định.
- Bị đơn ông Hồ Ngọc Ch: Đã được Tòa án triệu tập và niêm yết, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Ch đều vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H: Đã được Tòa án Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không được ngày 29/3/2021 ông Hồ Ngọc Ch và Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nên không hoà giải được. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự, đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 160, Điều 161, Điều 162 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các điều 430, 433, 436 và Điều 440 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim C.
Buộc bị đơn ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả nợ cho bà Võ Thị Kim C số tiền 145.000.000đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) và phải chịu chi phí giám định, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét thấy bà Võ Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán tiền nợ mua bán gạo thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Xét thấy tại phiên toà hôm nay, bị đơn ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt lần thứ 02 không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện ngày 28/12/2020 bà Võ Thị Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H trả số nợ 145.000.000đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
Xét thấy các giấy giao nhận gạo và chốt nợ giữa ông Hồ Ngọc Ch và bà Võ Thị Kim C từ ngày 18/01/2020 đến ngày 17/8/2020 và biên bản thỏa thuận trả nợ lập ngày 17/11/2020 giữa ông Ch và bà C là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Được thể hiện bằng biên bản thỏa thuận tính đến ngày 17/11/2020 ông Ch còn nợ bà C số tiền 145.000.000đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng), ông Ch cam kết thanh toán nợ vào ngày 17 hàng tháng với số tiền là 5.000.000đồng/tháng nhưng vẫn không thực hiện. Đến hạn trả nợ nhưng ông Ch không trả, mặt dù bà C đã nhiều lần đòi nợ nhưng không được như vậy ông Ch đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim C. Buộc bị đơn ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà C số nợ 145.000.000đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 430, 433, 436 và Điều 440 Bộ luật Dân sự. Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thấy quá trình thụ lý giải quyết bị đơn ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H cố tình chống đối không nhận giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết và giám định chữ ký của ông Hồ Ngọc Ch trong biên bản thỏa thuận trả nợ lập ngày 17/11/2020 để có cơ sở xét xử vụ án.
Về chi phí giám định: Xét kết luận giám định số: 28/KLGĐ-PC09 ngày 23/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk chứng minh yêu cầu của bà C là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử căn cứ các điều 160, 161 và 162 của Bộ luật tố tụng dân sự. Buộc ông Hồ Ngọc Ch phải chịu 3.240.000đồng chi phí giám định, nên cần buộc ông Hồ Ngọc Ch có nghĩa vụ trả lại cho bà C 3.240.000đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Về án phí Dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Võ Thị Kim C không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Ông Hồ Ngọc Ch phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 160, Điều 161, Điều 162 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Các điều 430, 433, 436 và Điều 440 Bộ luật Dân sự;
Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim C.
Buộc ông Hồ Ngọc Ch và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Kim C số tiền 145.000.000đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về chi phí giám định: Ông Hồ Ngọc Ch có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Võ Thị Kim C 3.240.000đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng), tạm ứng chi phí giám định.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Hồ Ngọc Ch nộp 7.250.000đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Võ Thị Kim C 3.625.000đồng (ba triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: 0010746 ngày 18/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh ĐắkLắk.
“ Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Quyền khánh cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk, - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKS huyện Buôn Đôn; - Chi cục THADS huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Vinh Tuấn |