- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Agribank và Mỹ, Quang"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N (do ông Nguyễn Văn V đại diện).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 16/2021/DS-ST Ngày: 17/3/2021. Về việc: “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Sơn;
2. Ông Trần Thành Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST-DS ngày 02/02/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N;
Trụ sở: Phường A, quận B, TP. Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Văn A sinh năm 1976; Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Agribank chi nhánh Châu Thành, An Giang; Theo văn bản ủy quyền ngày 09/9/2020.
Địa chỉ liên lạc: Ấp A, xã B, huyện C, An Giang.
2. Bị đơn: Bà Hà Thị Mỹ B , sinh năm 1969;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, An Giang.
3. Người có nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, An Giang.
(Vắng mặt bà Hà Thị Mỹ B, ông Lê Văn C; Đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Việt Nam (do ông Nguyễn Văn V đại diện theo ủy quyền) và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Vào năm 2019, bà Hà Thị Mỹ B có ký 02 hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần N, gồm: Hợp đồng tín dụng số 195/HĐTD ngày 25/02/2019 và hợp đồng số 195A/HĐTD ngày 06/6/2019 để vay số tiền tổng cộng là 600.000.000đ, mục đích vay là sản xuất lúa và bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất 09%/năm, thời hạn vay là 12 tháng; Khi vay có thế chấp tài sản gồm: Đất nông nghiệp diện tích 9.778m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02782 ngày 22/9/2011, diện tích đất ở nông thôn 134m2 theo giấy chứng nhận số H08014/dG ngày 15/12/2006 và 01 căn nhà diện tích 96,55m2 theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 002-02 ngày 01/02/2007 đều do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, An Giang cấp mang tên ông Lê Văn C và bà Hà Thị Mỹ B, theo hợp đồng thế chấp số 195/HĐTC ngày 19/5/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp số 195A/HĐTC ngày 31/5/2018. Tuy nhiên, từ khi vay đến nay bà Hà Thị Mỹ B chỉ đóng lãi cho ngân hàng theo 02 hợp đồng tín dụng tổng cộng là 18.821.918đ, riêng số tiền vốn của 02 hợp đồng tổng cộng là 600.000.000đ đến nay vẫn chưa thanh toán, mặc dù đã quá hạn.
Nay ngân hàng N yêu cầu bà Hà Thị Mỹ B trả số nợ vốn còn lại của 02 hợp đồng tín dụng là 600.000.000đ, lãi trong hạn và quá hạn đến ngày 17/3/2021 tổng cộng là 105.951.389đ; Tổng cộng vốn, lãi là 705.951.389đ. Đồng thời, yêu cầu tính lãi suất phát sinh đến khi thanh toán xong theo thỏa thuận trong hợp đồng, yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án.
* Về phía bị đơn bà Hà Thị Mỹ B, người có nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C thì: Tòa án đã nhiều lần gửi Thông báo, giấy mời vợ chồng đến Tòa án để tạo điều kiện cho gặp phía nguyên đơn trong vụ án để hòa giải và đối chiếu khoản nợ nhưng tất cả các lần bà Hà Thị Mỹ B, ông Lê Văn C đều vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ xác định được rằng Hà Thị Mỹ B, ông Lê Văn C có hộ khẩu tại Ấp A, xã B, huyện C, An Giang và hiện tại đã bỏ địa phương nhưng không để lại địa chỉ, các Thông báo và quyết định của Tòa án giao thông qua Thừa phát lại thì gia đình vẫn ký nhận thay nhưng bà A, ông C vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
[1] Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng có mục đích lợi nhuận nhưng có một bên không đăng ký kinh doanh nên tranh chấp dân sự thuộc khoản 3 Điều 26, căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bà Hà Thị Mỹ B, ông Lê Văn C vắng mặt lần thứ hai không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hợp đồng tín dụng: Xét về 02 hợp đồng tín dụng số 195/HĐTD ngày 25/02/2019 và số 195A/HĐTD ngày 06/6/2019 được ký giữa đại diện Ngân hàng N với bà Hà Thị Mỹ B có nội dung: “Bà Hà Thị Mỹ B vay của Ngân hàng N số tiền tổng cộng 600.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 09%/năm (quá hạn 150%), mục đích vay là bổ sung vốn sản xuất lúa và kinh doanh ăn uống”. Xét hợp đồng đã được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện, phía đại diện Ngân hàng Agribank xác định bà Hà Thị Mỹ B vẫn chưa thanh toán vốn 600.000.000đ và lãi suất phát sinh; Trong khi đó, từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện, tống đạt Thông báo cho bị đơn nhưng đến nay bà Hà Thị Mỹ B đều không có ý kiến phản bác và cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào khách quan để chứng minh đã thanh toán xong số nợ. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu trả nợ của đại diện Ngân hàng Agribank là có căn cứ nên được chấp nhận và buộc bà Hà Thị Mỹ B có trách nhiệm trả số tiền vốn đã vay là 600.000.000đ và toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn theo bản chiết tính ngày 17/3/2021 do phía Ngân hàng N đã tính toán, cung cấp tổng cộng là 105.951.389đ.
[3] Xét hợp đồng thế chấp số 195/HĐTC ngày 19/5/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp số 195A/HĐTC ngày 31/5/2018 có nội dung: “Ông Lê Văn C, bà Hà Thị Mỹ B đồng ý thế chấp những tài sản gồm: Đất nông nghiệp diện tích 9.778m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02782 ngày 22/9/2011, diện tích đất ở nông thôn 134m2 theo giấy chứng nhận số H08014/dG ngày 15/12/2006 và 01 căn nhà diện tích 96,55m2 theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 002-02 ngày 01/02/2007 đều do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, An Giang cấp mang tên ông Lê Văn C, bà Hà Thị Mỹ B để đảm bảo số tiền đã vay vốn, lãi và các khoản phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết”. Về nội dung, hình thức của hợp đồng đã được công chứng, đăng ký thế chấp, đã tuân thủ đúng theo các quy định tại Điều 317, Điều 319 của Bộ luật dân sự và đến thời điểm này không bên nào có tranh chấp về các điều khoản trong hợp đồng và đồng thời không có bên thứ ba tranh chấp, khiếu nại. Do đó, hợp đồng thế chấp tài sản số 195/HĐTC ngày 19/5/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp số 195A/HĐTC ngày 31/5/2018 có giá trị pháp lý và sẽ được duy trì, phát mãi để ưu tiên đảm bảo cho khoản nợ đã được thỏa thuận thế chấp trong hợp đồng. Ngoài ra, phía đại diện Ngân hàng N yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng trên số nợ gốc 600.000.000đ đến khi thanh toán xong, đây là yêu cầu phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do bị buộc trả nợ cho nguyên đơn nên bà Hà Thị Mỹ B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92; Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 của luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
+ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N (do ông Nguyễn Văn V đại diện). Buộc bà Hà Thị Mỹ B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền vốn, lãi tổng cộng là 705.951.389đ (Bảy trăm lẻ năm triệu chín trăm năm mươi một ngàn ba trăm tám mươi chín đồng).
+ Bà Hà Thị Mỹ B còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 600.000.000đ theo 02 hợp đồng tín dụng số 195/HĐTD ngày 25/02/2019 và số 195A/HĐTD ngày 06/6/2019, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
+ Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 195/HĐTC ngày 19/5/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp số 195A/HĐTC ngày 31/5/2018, đối với tài sản đã thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm:
+ Bà Hà Thị Mỹ B phải chịu 32.238.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ngân hàng N không phải chịu án phí nên được hoàn lại 15.200.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số số 0007330 ngày 06/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh An Giang;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND H. Châu Thành;
- Chi cục THADS H. Châu Thành;
- Các đương sự (Để thi hành);
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp An Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Cơ quan điều tra CA huyện Châu Thành; - Cơ quan THA hình sự huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo, bị hại (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |