vanban.org

Bản án 16/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Qu phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Qu 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19-11-2019. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 vỏ bao cao su và 02 bao cao su; tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000 đồng và chiếc điện thoại di động Nokia màu đen (chi tiết vật chứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn thị quyên - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Qu phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HSST
Ngày: 15-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Ông Ngô Kim Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Qu; sinh năm 1989 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số B đường Th, phường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Vũ Thị M; có 01 con, tiền án: ngày 15-8-2011 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán người” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-12-2018); tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ngày 19-11-2019; chuyển tạm giam ngày 25-11-2019; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18-11-2019, Đoàn Minh P và Hoàng Xuân Th đi uống rượu với nhau, sau đó cả hai nảy sinh ý định đi tìm gái bán dâm để mua dâm. Do có mối quan hệ xã hội từ trước nên Ph biết Nguyễn Thị Qu là gái bán dâm và có thể gọi thêm được gái bán …dâm, Ph đã gọi điện thoại cho Qu đặt vấn đề nhờ tìm hộ hai gái bán dâm cho Ph và Th. Qu đồng ý và thỏa thuận với Ph giá mỗi lần mua bán dâm là 1.000.000 đồng/1 người/1lượt. Sau khi thỏa thuận xong với Ph, Qu gọi điện thoại, nhắn tin cho Trần Thị Như Q1, rủ Q1 đi cùng mình để bán dâm cho khách với giá 1.000.000 đồng/1 lượt/1 người, Q1 đồng ý. Sau đó, Qu gọi điện thông báo cho Ph đã tìm được gái bán dâm và thống nhất đến nhà nghỉ Trang My, địa chỉ số 1-3 Vũ Tuấn Chiêu phường Mỹ Xá thành phố Nam Định để mua, bán dâm. Quá trình liên lạc trao đổi với Q1 và Ph, do tài khoản điện thoại của Qu hết tiền nên Qu đã mượn điện thoại của anh Phạm Văn Th để gọi điện, nhắn tin cho Q1 và Ph. Sau khi sử dụng điện thoại của anh Th xong, Qu đã xóa hết các tin nhắn, cuộc gọi vừa liên lạc trong máy điện thoại của anh Th, đồng thời cũng không nói cho anh Th biết việc Qu mượn điện thoại để giao dịch mua, bán dâm. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Ph và Th đến nhà nghỉ Trang My số 1-3 Vũ Tuấn Chiêu, phường Mỹ Xá, thành phố Nam Định gặp ông Phạm Xuân Quế là lễ tân nhà nghỉ thuê hai phòng nghỉ số 401, 403 mục đích để chờ gái bán dâm. Ph nhắn tin cho Qu thông báo số phòng đã thuê. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, Qu cùng Q1 đến nhà nghỉ Trang My, Qu bảo Q1 sang phòng 401 để bán dâm cho khách, còn Qu vào phòng 403 bán dâm cho Ph. Tại phòng 403, Ph đưa cho Qu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng; trong đó 2.000.000 đồng là tiền mua dâm Qu và Q1; 500.000 đồng là tiền trả công môi giới mà Qu đã gọi được Q1 bán dâm. Qu đã nhận số tiền trên và cất vào túi, sau đó Qu và Ph thực hiện hành vi mua bán dâm. Đồng thời lúc này, tại phòng 401, Q1 và Th cũng đang thực hiện hành vi mua bán dâm.

Khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ Trang My. Tại phòng 403, tổ công tác bắt quả tang Ph và Qu đang thực hiện hành vi mua bán dâm; đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) bao cao su, 01 (một) vỏ bao cao su (đã qua sử dụng) và thu của Qu số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng cùng 01 điện thoại di động Nokia 5 màu đen (đã qua sử dụng). Tại phòng 40, tổ công tác bắt quả tang Th và Q1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm; đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) bao cao su, 01 (một) vỏ bao cao su (đã qua sử dụng). Sau đó, cơ quan Công an đã đưa các đối tượng cùng các vật chứng đã thu giữ được về trụ sở Công an thành phố Nam Định lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Qu, Trần Thị Như Q1, Đoàn Minh P và Hoàng Xuân Th đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTPNĐ ngày 31-12-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Thị Qu về tội: “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thị Qu khai nhận hành vi bán dâm cho Đoàn Minh P và môi giới cho Trần Thị Như Q1 bán dâm cho Hoàng Xuân Th. Bị cáo nhận từ Đoàn Minh P số tiền là 2.500.000 đồng, trong đó trả cho Q1 1.000.000 đồng, số tiền 1.000.000 đồng là số tiền bị cáo bán dâm cho Đoàn Minh P và 500.000 đồng là số tiền hưởng lợi từ việc môi giới cho Q1 bán dâm cho Th.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 328, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Qu phạm tội “Môi giới mại dâm”; xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Qu không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 20 giờ đến 22 giờ 05 phút ngày 18-11-2019, bị cáo Nguyễn Thị Qu đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt cho Trần Thị Như Q1 bán dâm cho Hoàng Xuân Th tại nhà nghỉ Trang My đường Vũ Tuấn Chiêu phường Mỹ Xá thành phố Nam Định. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi môi giới cho người khác mua bán dâm bị pháp luật cấm, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích tư lợi; lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Môi giới mại dâm” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án bị kết án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi mua, bán dâm của Đoàn Minh P, Hoàng Xuân Th, Nguyễn Thị Qu, Trần Thị Như Q1; hành vi thiếu kiểm tra, quản lý của ông Trần Quốc Tuấn là chủ nhà nghỉ Trang My để xảy ra hoạt động mại dâm đều không cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Nam Định đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 02 bao cao su và 02 vỏ bao cao su đã qua sử dụng đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của bị cáo Qu là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, số tiền 2.500.000 đồng là do bị cáo phạm tội mà có và tiền thu từ giao dịch bất hợp pháp nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Qu phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Qu phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Qu 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19-11-2019.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 vỏ bao cao su và 02 bao cao su; tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000 đồng và chiếc điện thoại di động Nokia màu đen (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Qu phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Qu được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ