- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh S phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HS-ST Ngày 21 tháng 01 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Tra
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch
Bà Đào Thị Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2019/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1962 tại Bình Định; hộ khẩu thường trú: 53/1, Ấp 4, xã AV, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Ngô Thị B (đã chết); gia đình có 04 anh chị em; vợ Nguyễn Thị Q (đã chết); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
+ Ngày 06/7/1999, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/1999;
+ Ngày 14/4/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 11/9/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2008;
+ Ngày 15/12/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2010;
+ Ngày 08/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2016, đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/02/2016.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 27/10/2019 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Tổ 10, Khu phố 1, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn X; sinh năm 1958;
Địa chỉ: Tổ 10, Khu phố 1, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Tổ 10, Khu phố 1, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
2. Anh Trần Công C, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp TC, xã BM, huyện TB, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 27/10/2019, Nguyễn Thanh S đi bộ lang thang đến thị trấn Trảng Bom với mục đích tìm tài sản của người dân để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, trên đường đi S nhặt được 01 chìa khóa xe mô tô và cất vào trong người. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, S đi bộ đến khu vực đường hẻm bên hông chợ Trảng Bom thuộc Khu phố 1, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện xe mô tô biển số 60FD – 4012 của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, trú tại Khu phố 1, thị trấn TB, huyện TB đang dựng sát lề đường, không có người trông coi nên S nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. S đi bộ đến chỗ xe mô tô biển số 60FD – 4012, dùng chìa khóa xe mô tô nhặt được trước đó để mở khóa, rồi điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi phát hiện bị mất trộm xe, bà Nh gọi điện thoại báo cho anh Nguyễn Minh T (là con trai của bà N) biết, nên anh T điều khiển xe đi tìm. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, anh T phát hiện S đang điều khiển xe mô tô biển số 60FD – 4012 đi đến khu vực chợ Trà Cổ thuộc ấp TC, xã BM, huyện TB nên đã truy hô, cùng với người dân bắt giữ S giao cho công an xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, đồng thời thu giữ vật chứng 01 xe mô tô biển số 60FD – 4012. Cùng ngày, công an xã Bình Minh đã chuyển giao đối tượng Nguyễn Thanh S cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng cho Công an huyện Trảng Bom để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 29/10/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận: 01 xe mô tô biển số 60FD – 4012, bị can Nguyễn Thanh S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N có trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Ngày 05/11/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra. Quá trình điều tra, bị can S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Xử lý vật chứng: Ngày 20/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 60FD – 4012 cho bà Nguyễn Thị N. Bà N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Đối với 01 chìa khóa xe mô tô bị can S sử dụng làm công cụ phạm tội, bị can khai đã làm mất trên đường bỏ chạy nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về dân sự: Đã giải quyết xong, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 22/CT-VKS-TB ngày 27 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị can Nguyễn Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự xử bị cáo từ 08 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã xử lý có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Nguyễn Thanh S phù hợp với biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, vật chứng, kết luật giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng khoảng 09 giờ ngày 27/10/2019, tại khu vực đường hẻm bên hông chợ Trảng Bom thuộc Khu phố 1, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thanh S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60FD – 4012 có trị giá 5.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị N mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, bị cáo Nguyễn Thanh S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy: Về tên và năm sinh của bị cáo, khi bị bắt khẩn cấp, lấy lời khai ban đầu, bị cáo đã cố tình khai gian dối tên và năm sinh của mình là Nguyễn Văn D, sinh năm 1960 nên hồ sơ ban đầu khi làm việc với bị cáo đều xác định bị cáo tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1960. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa, bị cáo đã xác nhận lại mình tên thật là Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962. Qua xác minh nhân thân, lý lịch, bị cáo tên thật là Nguyễn Thanh S nên ngày 29/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Thông báo về việc điều chỉnh thông tin, nhân thân, lý lịch của đối tượng tạm giữ từ tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1960 sang thành Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962. Về nhân thân, bị cáo đã 05 lần bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng đều đã được xóa án tích; bị cáo không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại xe mô tô biển số 60FD – 4012 cho bà Nguyễn Thị N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu bồi thường.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 10 năm 2019.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Nhà tạm giữ - Công an huyện Trảng Bom; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom; - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán (3); Mẫu 27-HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký đóng dấu) Phạm Phú Tra |