vanban.org

Bản án 16/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng Hường phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HSST
Ngày 25/ 02 /2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH B

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Bá Thành

2. Ông Đỗ Hoàng Long

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thúy - Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/HSST ngày 10/01/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với:

Bị cáo: Trần Đăng H - Sinh năm 1985

HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh B

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn: 12/12

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông:Trần Đăng P, sinh năm 1960 Con bà: Đàm Thị Ph, sinh năm 1961. Vợ là Trịnh Thị L, sinh năm 1984

Con: Có 02 con , con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 02/12/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa phương (Có mặt tại phiên toà).

- Người bị hại: Ông Đàm Phương Đ, sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh B

( Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn L, Thị Trấn H, huyện T, tỉnh B

( Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/11/2019, Trần Đăng H đi sang nhà ông Đàm Phương Đ ở cùng thôn để mua rượu. Khi đến nhà ông Đ, H nói “Chú bán cho cháu hai lít rượu”. Ông Đ đi ra phía bình rượu để ở sân và cầm can để rót rượu. Khi rót rượu ông Đ quay lưng về phía bàn uống nước để ở sân, còn H đứng ở ngay phía sau lưng của ông. Lúc này, H phát hiện thấy trên bàn uống nước ở sân nhà ông Đ có một chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi loại Redmi Note 8, màu xanh dương nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. H liền đi đến vị trí để chiếc điện thoại. Thấy ông Đ vẫn đang tập trung rót rượu, không quay lại nhìn nên H đã trộm cắp chiếc điện thoại trên và đút vào túi quần phía trước bên phải Hđang mặc. Sau đó, H đi đến đứng cạnh ông Đ và nói: “Cháu mua rượu sang nhà ông Thỉnh uống”. Ông Đ rót xong can rượu thì đưa cho H , H nói: “Mai cháu trả tiền” rồi cầm can rượu và về. Khi đi đến đầu thôn N, xã Ho, huyện T, tỉnh B. H lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra và bật chế độ máy bay để không ai liên lạc được rồi đi uống rượu. Đến khoảng 08 giờ ngày 19/11/2019, H mang chiếc điện thoại trộm cắp được của ông Đ đến cửa hàng sửa chữa điện thoại Duy G ở chợ trung tâm huyện T gặp anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986, trú tại thôn L, thị trấn H, huyện T, tỉnh B là bạn học của H. Tại đây, H nói với anh D là: “Máy của vợ tao, con tao nó nghịch bị khóa máy, mày hộ tao phá cái mật khẩu”. Sau khi được anh D phá mật khẩu, Hbán lại điện thoại này cho anh D với giá 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Anh D đồng ý mua và trả cho H 2.000.000đ (Hai triệu đồng) vì phải trừ đi tiền công sửa chữa là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Số tiền trên, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 09 giờ ngày 19/11/2019, con trai ông Đ là anh Đàm Phương H, sinh năm 1992, đến cửa hàng điện thoại Duy G thì phát hiện điện thoại của ông Đ ở đây và được D cho biết chiếc điện thoại này là của Trần Đăng H, sinh năm 1985, trú ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh B vừa mới bán cho anh. Sau đó, anh H điện thoại cho H đến cửa hàng điện thoại Duy G để nói chuyện nhưng H không đến. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, anh D gọi điện cho anh H đến cửa hàng của mình để nói chuyện với H . Khi đi anh H có cầm theo vỏ hộp điện thoại Xiaomi Redmi Note 8. Tại cửa hàng, anh H hỏi H là có lấy điện thoại của ông Đ không, thì H không thừa nhận và nói là mua lại của một người bạn cùng công ty. Anh H lấy vỏ hộp đã mang theo lúc trước nhờ anh Duy kiểm tra thông tin. Khi đối chiếu thông tin số IMEI ghi trên vỏ hộp điện thoại với số IMEI ở bên trong máy điện thoại mà H bán cho anh D thì thấy trùng khớp nhau. Sau đó, anh D có nói với Hướng: “Nếu lấy thì trả cho em nó” nhưng H vẫn khẳng định là không lấy mà mua lại của bạn. Sau đó H bỏ đi không về nhà.

Ngày 21/11/2019, anh Nguyễn Văn D đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T 01 (một) điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 8, màu xanh dương mua của Hvà 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 8GB, bên trong có đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của cửa hàng Duy G ghi lại hình ảnh Hđến cửa hàng để bán điện thoại cho D.

Đến ngày 23/11/2019, Trần Đăng Hđã đến Cơ quan Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 25/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản số 69 trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá đối với điện thoại di động hiệu Xiaomi loại Redmi Note 8, màu xanh dương.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 63 ngày 02/12/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận : 01 (một) chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 8, màu xanh dương, mua mới ngày 17/10/2019 giá 4.990.000đ, bị chiếm đoạt ngày 18/11/2019, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

Ngày 02/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, đã trả lại chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 8, màu xanh dương, cho ông Đàm Phương Đ, là chủ sử dụng hợp pháp tài sản. Vì vậy, về TNDS ông Đ không có yêu cầu bị can phải bồi thường.

Ngày 08/12/2019, Trần Đăng H đã trả lại cho anh Duy số tiền mua điện thoại của H là 2.500.000đ nên anh không có yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 04/CTr- VKS ngày 05/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Trần Đăng Hvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cũng tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T duy trì công tố tại phiên tòa đã có đánh giá, phân tích đến hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề cập đến những tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Đăng H theo tội danh và điều luật đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Đăng H từ 06 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Miễn hình phạt bổ xung đối với bị cáo.

Về trách nhiện dân sự: Không đặt ra xem xét.

Đối với chiếc USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 8GB, đây là chứng cứ của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận bị cáo nhận tội và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên hôm nay bị cáo Trần Đăng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/11/2019, tại nhà ông Đàm Phương Đ ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh B, Trần Đăng H trong lúc đi mua rượu lợi dụng sơ hở đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 8, màu xanh dương trị giá 2.400.000đ của ông Đ rồi đem đi bán cho anh Nguyễn Văn D được số tiền 2.500.000đ (thực tế chỉ nhận 2.000.000đ vì bị trừ 500.000đ tiền công sửa chữa). Sau đó tiêu xài cá nhân hết. Hiện chiếc điện thoại trên đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã lén lút cố ý thực hiện tội phạm với động cơ tư lợi, mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là có giá trị và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó đối với bị cáo cần phải xét xử nghiêm trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

2] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt bị cáo đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an huyện T đầu thú. Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng đang là thương binh. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên cần miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Đàm Phương Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt ông Đ xác định đã được nhận lại chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 8, màu xanh dương. anh Nguyễn Văn D xác định anh đã được bị cáo H trả lại số tiền 2.500.000 đồng. Ông Đ và anh D không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên HĐXX không đặt ra xem xét về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[5]. Đối với chiếc USB nhãn hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 8GB, bên trong có đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của cửa hàng Duy G ghi lại hình ảnh H đến cửa hàng để bán điện thoại cho Duy, đây là chứng cứ của vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đăng H 6 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đăng H cho UBND xã H huyện T Tỉnh B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Đăng H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt. Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện

- Công an Huyện

- Chi cục T.H.A

Đã ký

- Những người tham gia tố tụng

- Lưu HS-VPTA

Nguyễn Quang Hòa

Cỡ chữ