vanban.org

Bản án 16/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 04/2020/HSST, ngày 26-02-2020 của Tòa án nhân huyện K, tỉnh T B.

Áp dụng:Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-10-2019. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 04/2020/HSST, ngày 26-02-2020 của Tòa án nhân huyện K, tỉnh T B.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH T B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HSPT
Ngày28-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH T B

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân B;

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thi ̣ Kim H;

Bà Đỗ Thị H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh T B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T B tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy H- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh T B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2020/HS-PT, ngày 30 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn Th do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số:04/2020/HSST ngày 26-02-2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T B.

Bị cáo có kháng cáo:Nguyễn Văn Th; sinh năm 1979; tại tỉnh T B; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn Thanh N (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh T B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1936; có vợ Hoàng Thị Thiên Tr, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có hai con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 41/HS-ST, ngày 15-11-1996 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T B xử phạt 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”; Bản án số:109/HS-ST, ngày 18-12-2001 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 07/HS-ST ngày 20-8-2004 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Th xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24-10-2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24-10-2019, Nguyễn Văn Th cùng các anh Trần Ngọc Q, anh Nguyễn Văn H và anh Hoàng Thế Nh đến quán của anh Trương Thế Đ, sinh năm 1974; địa chỉ:Khu T, thị trấn Thanh N, huyện K, tỉnh T B để ăn uống. Đến nơi, do Th là người mời nên các anh Q, H, N đứng chờ ở ngoài vỉa hè trước quán nhà anh Đ, Th vào quán để gọi đồ ăn. Lúc này trong quán chỉ có chị Đặng Thị S (là vợ anh Đ), sau khi Th gọi đồ ăn xong thì chị Sửu đi vào trong gian bếp để chuẩn bị đồ ăn. Th nhìn thấy trên mặt bàn có 01 ví và 01 chiếc điện thoại di động. Thấy trong sân nhà anh Đ không có người, Th nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ví và điện thoại. Th đến bàn cầm điện thoại cho vào túi quần bên phải và ví cho vào cạp quần bên trái. Sau khi lấy được tài sản, Th đi ra vỉa hè gặp H, N, Q vẫn đang đứng đợi nên Th nói với mọi người: “Mọi người cứ ở đây, tý quay lại”. Th đi bộ đến quán cafe của chị Vũ Thị V tại Khu T, thị trấn Thanh N, huyện K, cách quán nhà anh Đ khoảng 100m, Th gọi một cốc cafe uống. Khoảng 15 phút sau, Th lấy từ túi quần sau 20.000đ (là tiền cá nhân của Th) để trả tiền cafe cho chị V. Sau đó Th đi bộ đến quán karaoke của chị Vũ Thị M trú tại khu Đ T, thị trấn Thanh N, huyện K gặp chị M để đặt 01 phòng hát và được chị M bố trí cho phòng hát ở trên tầng hai. Th lấy 1.000.000đ trong ví vừa lấy ở quán anh Đ đưa cho chị M, Th ngồi hát một lúc thì ra về, khi đi bộ ra đường được một đoạn thì bị Cơ quan Công an huyện K triệu tập về trụ sở để làm việc. Cơ quan điều tra thu giữ của Th 01 điện thoại Iphone 6; 01 ví da màu nâu, bên trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Trương Thế Đ và số tiền 420.000đ, thu tại túi quần bên phải của Th số tiền 20.900.000đ

Quá trình điều tra, bị hại là anh Trường Thế Đ khai mất số tiền trong ví khoảng 24.000.000đ đến 25.000.000đ. Tuy nhiên trong quá trình điều tra xác định số tiền mà Nguyễn Văn Th trộm cắp của anh Trương Thế Đ là 22.320.000đ.

Kết luận định giá tài sản số 16/KL - HĐĐG ngày 28-10-2019 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện K kết luận: “01 (một) ví da màu nâu kích thước (23x10) cm, ví có 3 ngăn chính và 6 ngăn phụ đã qua sử dụng có giá trị 35.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu đen, số IMEI: 3520900752445352 đã qua sử dụng có giá trị 3.500.000 đồng; 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone 6 bằng nhựa màu đen đã qua sử dụng có giá trị 40.000 đồng; 01 (một) thẻ sim điện thoại số 0914882166 có giá trị 55.000 đồng”. Tổng giá trị các tài sản trên là 3.630.000 đồng.

Kết luận giám định số 97/KLGĐ – PC09 ngày 28-10-2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T B kết luận: “60 (sáu mươi) tờ tiền (có giá trị 21.320.000 đồng) gửi giám định là tiền thật.”

Bản án hình sự sơ thẩm số:04/2020/HS-ST, ngày 26-02-2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T B, đã quyết định:

Căn cứ vào, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 củaBộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (viết tắt là Bộ luật Hình sự); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Th vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-10-2019.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.Ngày 06 tháng 3 năm 2020, bị cáo Nguyễn Văn Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Bị cáo Nguyễn Văn Th vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T B đề nghị Hội đồng xét xử.Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th và giữ nguyên án sơ thẩm.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24-10-2019, lợi dụng sơ hở tại nhà anh Trương Thế Đ, sinh năm 1974 trú tại Khu T, thị trấn Thanh N, huyện K, tỉnh T B, bị cáo Nguyễn Văn Th đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 ví da màu nâu, bên trong ví có số tiền mặt 22.320.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6; 01 ốp lưng điện thoại; 01 thẻ sim điện thoại, có trị giá 3.630.000 đồng, của anh Đ để trên mặt bàn uống nước trong sân nhà anh Đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp theo Hội đồng định giá là 25.950.000 đồng.Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bi ̣ cáo Nguyễn Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Th là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân, bị cáo Th có nhân thân xấu. Tòa án cấp sơ thẩm đa căñ cứ mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp.

Từ những phân tích kể trên Hội đồng xét xử xét thấy, không có căn cứ để chấp nhâ ̣n kháng cáo của bi ̣ cáo Nguyễn Văn Th. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Th và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th vụ Quốc hội. Do bản án hình sự sơ thẩm được giữ nguyên, nên bi ̣ cáo Nguyễn Văn Th phải chi ̣u án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào, điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

1.Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 04/2020/HSST, ngày 26-02-2020 của Tòa án nhân huyện K, tỉnh T B.

2.Áp dụng:Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-10-2019.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ