- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Hữu T và các bị cáo khác - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? - Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đoàn Văn Đ và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại, giữ nguyên ản án s thẩm về phần hình phạt đối với các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HSPT Ngày: 01 - 12 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- T2 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Trường
Ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2020/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với cáo Trần Ngọc Hữu T và các bị cáo khác về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của các b cáo và người đại diện hợp pháp của người b hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 26-9-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
1. Trần Ngọc Hữu T, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2001, tại thành phố Đà Nẵng. N i ĐKNKTT và chỗ ở: TP Đà Nẵng. Trình độ văn hóa: 08/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Trần Ngọc H và à Nguyễn Th P. Tiền án, tiền sự: Chưa.
B tạm giữ ngày 02/6/2020, tạm giam ngày 05/6/2020. Có mặt.
2. Đoàn Văn Đ, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2001, tại thành phố Đà Nẵng. N i ĐKHKTT và chỗ ở: TP. Đà Nẵng. Trình độ văn hóa: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Đoàn Văn D và à Lê Th P. Tiền án, tiền sự: Chưa.
B tạm giữ ngày 27/10/2019, tạm giam ngày 05 /11/2019. Có mặt.
3. Nguyễn Anh K (Lu), sinh ngày 03 tháng 6 năm 2002, tại thành phố Đà Nẵng. N i ĐKHKT và chỗ ở: TP. Đà Nẵng. Trình độ văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông Nguyễn L và à Nguyễn Th T. Tiền án, tiền sự: Chưa.
B bắt tạm giam ngày 19/5/2020. Có mặt.
4. Trần Công K1 , sinh ngày 22 tháng 3 năm 2001, tại thành phố Đà Nẵng. N i ĐKHKTT và chỗ ở: TP. Đà Nẵng. Trình độ văn hóa:12/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông Trần Ngọc C và à Trư ng Th P. Tiền án, tiền sự: Chưa.
B bắt tạm giam ngày 20/5/2020. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc Hữu T theo yêu cầu của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Bùi Xuân N, Luật sư , Công ty luật TNHH MTV A thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng; đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng.. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn Đ theo yêu cầu của của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Nguyễn H V, Luật sư, Công ty luật TNHH MTV N thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng; đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh K theo yêu cầu của T2 tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đà Nẵng và bào chữa cho bị cáo Trần Công K1 theo yêu cầu của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Võ Văn Đ, Luật sư, Văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng; đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Người bị hại: Anh Phan Nguyễn Tường N, sinh ngày 08/02/2005.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Phan Thanh P, sinh năm 1968 và à Nguyễn Th P, sinh năm 1984; Cùng đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng. Bà P có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Nguyễn Th Kim A, Trợ giúp viên pháp lý T2 tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1. Ông Nguyễn L, sinh năm 1957 và à Nguyễn T, sinh năm 1963: Cùng đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng - Là cha mẹ ruột của cáo Nguyễn Anh K. Đều có mặt.
2. Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1973 và à Lê Th P, sinh năm 1976; Cùng đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng - Là cha mẹ ruột của cáo Đoàn Văn Đ. Đều có mặt.
3. Ông Trần Ngọc C, sinh năm 1966 và à Trư ng Th P, sinh năm 1966: Cùng đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng - Là cha mẹ ruột của cáo Trần Công K1. Đều có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các cáo khác, những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo; không kháng cáo, kháng ngh .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 26/10/2019, Võ Ngọc Q, Phan Nguyễn Tường N, Huỳnh Duy V, Trần Quốc T1, Phan Hồng Đ. Trần Văn P, Trần Văn Đ, Nguyễn Hữu Quốc H đến quán nhậu T tại số 125 L, TP. Đà Nẵng để ăn uống. Đến h n 20h cùng ngày thì có nhóm của Lê Nguyễn Công T2, Nguyễn Hữu Thiên N1, Nguyễn Hữu Thiện T2, Nguyễn Anh K, Quang Bảo Q1 và Trần Công K1 cũng đến ăn uống tại đây. Lúc này, nhóm của Q có nhìn sang nhóm của T2 và N1. N1 cho rằng nhóm của Q nhìn đểu mình nên N1 rủ T2 đi mượn hung khí để đánh nhóm của Q. N1 mượn điện thoại di động của T2 gọi cho Trần Ngọc Hữu T qua số thuê bao 0937.625.981 để hỏi mượn hung khí. T trả lời không có hung khí và nói với N1 “để hỏi lại Q" tức là Phan Hồng Q. Lúc này Q đang ở cùng với T và Q đồng ý cho N1 mượn hung khí. Khoảng 05 phút sau, T gọi lại vào số thuê ao của T2 nhưng N1 nghe máy, T nói “Đồ ên nhà Q có giữ 02 cây, mi qua nhà Q lấy". Qua điện thoại, N1 có rủ T và Q tham gia đánh nhau thì T và Q đồng ý tham gia. Lúc này, T2 lấy lại điện thoại di động của mình và gọi điện thoại cho Đoàn Văn Đ qua số thuê ao 0935.139.157 để rủ Đ đi đánh nhau thì Đ đồng ý. Sau đó, T2 nói với Nguyễn Anh K: "Ê Lu, đưa ta mượn xe chạy qua nhà Q lấy đồ", tức là lấy hung khí. K đồng ý cho T2 mượn xe mô tô nhãn hiệu Air lade, màu đen, mang BKS 43F1- 40356 chở N1 đến phòng trọ số 102 thuộc dãy trọ K141/42 T, TP. Đà Nẵng thì gặp Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 43C1-61288 chở T về phòng trọ. Tại đây, Q chạy vào phòng trọ lấy 02 cây dao đưa cho N1. T2 lấy 01 cây dao tự chế (dao dài 58 cm; cán dài 13 cm có ọc nhựa cứng màu đen; phần lưỡi dài 45 cm, ằng kim loại màu đen; một cạnh sắc, phần lưỡi sắc trắng sáng; ản dao rộng 06 cm mũi đao hình ầu) ỏ vào cốp xe Air lade và N1 lấy 01 cây dao tự chế (dao dài 99 cm; phần lưỡi dài 70 cm; cán dài 29 cm; cán có dây vải ọc xung quanh; ản dao rộng 02 cm; một cạnh sắc, mũi dao nhọn) đặt lên yên xe Air lade rồi cả hai cùng ngồi lên. T2 điều khiển xe Air lade BKS 43F1- 40356 chở N1: Q điều khiển xe mô tô hiệu Sirius BKS 43C1 - 61288 chở T cùng đến quán cà phê H trên đường T, TP. Đà Nẵng để T2 đón Đoản Văn Đ. Sau đó, cả nhóm đi đến quán nhậu T. T2 chở N1 và Đ đến trước. Lúc này, N1 vào quán nhậu nói K, K1, Bảo Q1 và T2 tính tiền đi về. Nhóm T2 tính tiền và ra trước quán nhậu, Lúc này, T2 chở Bảo Q1 về trước. Trần Công K1 iết chuẩn đánh nhau nên chủ động dắt xe mô tô Sirius BKS 75F9-0775 màu ạc của T2 ra dựng sát v trí xe của Nguyễn Anh K. Nguyễn Anh K chạy đến chỗ xe Air lade của mình, lúc này T2 nói K mở cốp xe Air lade để T2 lấy hung khí. Sau đó, T2 có nói với Nguyễn Anh K là “đứng đợi ta xí” K hiểu là đứng đợi để chở T2 tẩu thoát khỏi hiện trường. Trần Công K1 không đi về mà đứng lại cùng với K. Cả K1 và K đều thấy T2, N1 cầm theo hung khi xông vào quán T chém nhóm thanh niên kia nhưng vẫn đồng ý đứng đợi để chở T2, N1 rời khỏi hiện trường sau khi gây án. Lúc này, Q chở T đến dựng xe ở v trí đối diện quán T cách nhóm của T2 khoảng 15 mét. T2 cầm dao ằng tay phải, chạy thẳng vào trong quán; từ phía sau, T2 vung dao chém một nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng dầu của Phan Nguyễn Tường N (đang ngồi quay lưng về phía T2); N1 cầm dao tự chế chạy theo phía sau vung dao chém vào nhóm thanh niên nhưng trúng mặt àn nhậu rồi tiếp tục cầm dao chém một nhát vào vùng lưng của Trần Quốc T1 (chỉ gây xây xát da). Sau đó, N1 tiếp tục tiến tới chỗ N, hai tay cầm dao chém một nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào cẳng tay trái của N; Đ cầm mũ ảo hiểm đánh vào vùng lưng của Trần Quốc T1 và tiếp tục dùng tay đánh vào vùng lưng của T1, Cùng lúc đó, Trần Ngọc Hữu T và Phan Hồng Q mỗi người cầm một cục đá (nhặt ở ven đường) ném vào nhóm hại. Huỳnh Duy V ném đá trúng vùng mặt ên phải, Nguyễn Hữu Quốc H ném đá trúng vùng sườn ên phải. Chém xong, T2 và N1 chạy ra lên xe Airblade BKS 43F1 - 40356 do Nguyễn Anh K chờ sẵn; Đoàn Văn Đ lên xe Sirius BKS 75F9 0775 do Trần Công K1 chờ sẵn, Q chở T, cả nhóm ỏ chạy khỏi hiện trường. Nhóm của Võ Ngọc Q đưa N vào ệnh viện cấp cứu.
* Hậu quả: Theo Kết luận giảm đ nh pháp y về thư ng tích số: 379/TgT ngày 16.12.2019 của T2 tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố Đà Nẵng kết luận Phan Nguyễn Tường N thư ng tích như sau: Chấn thư ng sọ não hở: Vỡ lún sọ trán phải đã phẫu thuật có hai vết thư ng đã khâu chỉ, ờ mép phẳng gọn dài 01 cm và 09 cm; Mặt sau đoạn 1/3 giữa cẳng tay trái có vết thư ng đã khâu chỉ, ờ mép phẳng gọn, kích thước dài 06cm x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thư ng c thể do vết thư ng gây nên hiện tại của Phan Nguyễn Tường N là 25% (Hai lăm phần trăm).
Trần Quốc T1 có đ n không yêu cầu giám đ nh thư ng tích, không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu ồi thường thiệt hại đối với việc ản thân đánh.
Huỳnh Duy V và Nguyễn Hữu Quốc H có đ n không yêu cầu giám đ nh thư ng tích, không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu ồi thường thiệt hại đối với việc ản thân ném đá.
Tại B n án h nh sự s thẩm s 11/2020/HS-ST ngày 26/9/2020, Tòa án nhân dân thành ph Đà Nẵng đ quy t định:
Tuyên ố: Các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Nguyễn Anh K và Trần Công K1 phạm tội "Giết người".
1. Căn cứ: Điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt:
- Trần Ngọc Hữu T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày 02/6/2020.
- Đoàn Văn Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày 27/10/2019.
- Trần Công K1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù kế từ ngày 20/5/2020.
2. Căn cứ: Điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57, Điều 91, Điều 101, Điều 102 và Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt:
Nguyễn Anh K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày 19/5/2020.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần tội danh và hình phạt đối với các cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/10/2020 b cáo Đoàn Văn Đ có đ n kháng cáo cho rằng Tòa án cấp s thẩm xử mức án nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 06/10/2020, b cáo Trần Công K1 có đ n kháng cáo cho rằng Tòa án cấp s thẩm xử mức án nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/10/2020, b cáo Nguyễn Anh K có đ n kháng cáo cho rằng Tòa án cấp s thẩm xử mức án nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 02/10/2020, người đại diện hợp pháp của người b hại anh Phan Nguyễn Tường N là ông Phan Thanh P và à Nguyễn Th P có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các cáo Đoàn Văn Đ, Trần Ngọc Hữu T, Trần Công K1 và xin cho b cáo Nguyễn Anh K được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các cáo Đoàn Văn Đ, Nguyễn Anh K, Trần Công K1 và người đại diện hợp pháp của người b hại à Nguyễn Th P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các cáo Đ, K, K1 cho rằng Tòa án cấp s thẩm xử mức án nặng, xin giảm nhẹ hình phạt. Bà Nguyễn Th P xin giảm nhẹ hình phạt cho các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Trần Công K1 và xin cho cáo Nguyễn Anh K được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các cáo Đoàn Văn Đ, Nguyễn Anh K và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người b hại ông Phan Thanh P, à Nguyễn Th P, giữ nguyên ản án s thẩm về phần hình phạt của các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Nguyễn Anh K. Chấp nhận kháng cáo của b cáo Trần Công K1 và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người b hại ông Phan Thanh P, à Nguyễn Th P sửa bản án s thẩm giảm hình phạt cho b cáo Trần Công K1.
Lời ào chữa của các Luật sư cho các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Trần Công K1, Nguyễn Anh K hầu hết nhất trí về phần tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng để xét xử đối với các cáo. Các luật sư nêu lên các tình tiết giảm nhẹ, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét mức độ phạm tội của từng b cáo. Luật sư ào chữa cho các cáo K1 và K còn đề ngh Hội đồng xét xử không áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS đối với các cáo. Các luật sư đều đề ngh HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các cáo. Luật sư ào chữa cho b cáo K đề ngh cho b cáo được hưởng án treo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho gia đình người b hại cho rằng các cáo đều ở tuổi mới lớn, các cáo đều ân hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình cáo Đ rất khó khăn nên đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các cáo và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người b hại, giảm hình phạt cho các cáo và cho cáo K được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Nguyễn Anh K, Trần Công K1 khai nhận tội, đối chiếu thấy phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ s vụ án, Hội đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Lúc 20 giờ 40 phút ngày 26-10-2019, tại quán nhậu T số 125 đường L, thành phố Đà Nẵng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng Lê Nguyễn Công T2, Nguyễn Hữu Thiên N1, Đoàn Văn Đ, Trần Ngọc Hữu T, Phạm Hồng Q, Trần Công K1, Nguyễn Anh K chuẩn b hung khí để đánh nhau với nhóm của anh Phan Nguyễn Tường N. T2 cầm dao chém từ trên xuống trúng vào vùng đầu của anh N. N1 cầm dao tự chế chém trúng vào lưng anh Trần Quốc T1 và chém trúng cẳng tay trái của anh N. Đ dùng mũ ảo hiểm và dùng tay đánh vào lưng của anh Trần Quốc T1. Q và T mỗi người cầm một cục đá ném trúng vùng mặt anh Huỳnh Duy V và trúng vào sườn ên phải của anh Nguyễn Hữu Quốc H. Sau đó, T2 và N1 lên xe của Nguyễn Anh K. Đ lên xe của Trần Công K1 đợi sẵn chạy tẩu thoát khỏi hiện trường. Hậu quả anh Phan Nguyễn Tường N b chấn thư ng sọ não hở. Tỷ lệ thư ng tật 25%.
Hành vi nêu trên của các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Trần Công K1, Nguyễn Anh K đã Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Giết người” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Luật sư đề ngh bỏ điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự đối với các cáo K và K1 là không đúng, vì đây là vụ án đồng phạm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Bản án s thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ phạm tội của từng b cáo, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các cáo T, Đ, K, K1 như: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; thái độ khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình các cáo ồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, đại diện gia đình của người b hại có đ n ãi nại và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho các cáo; các cáo T và Đ ra đầu thú; cáo K khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi và xử phạt các cáo Trần Ngọc Hữu T 06 năm tù, Đoàn Văn Đ 05 năm tù, Trần Công K1 04 năm tù, Nguyễn Anh K 03 năm tù. Sau khi xét xử s thẩm, gia đình các cáo T, K1, K mỗi gia đình hỗ trợ thêm người b hại 1.000.000 đồng, được thể hiện tại Giấy nhận tiền và đại diện hợp pháp của người b hại thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm, đồng thời đại diện hợp pháp của người b hại cũng có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các cáo và xin cho cáo K được hưởng án treo. Nhưng xét, trong vụ án này các cáo T và Đ tham gia rất tích cực. B cáo T đã cùng Q cho mượn hung khí, dùng đá ném vào nhóm người b hại. B cáo Đ dùng mũ ảo hiểm và dùng tay đánh nhóm người b hại. Mức hình phạt trên đối với các cáo T và Đ là không nặng, tư ng xứng với hành vi và hậu quả do các b cáo gây ra nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đoàn Văn Đ và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người b hại cũng như lời ào chữa của các luật sư cho các cáo và giữ nguyên ản án s thẩm về phần hình phạt đối với các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ.
Đối với các cáo Nguyễn Anh K và Trần Công K1 dùng xe mô tô chở các b cáo khác tẩu thoát sau khi gây án, cáo K còn cho T2 mượn xe đi lấy hung khí, nhưng K còn tuổi chưa thành niên. Các cáo không trực tiếp đánh nhau, vai trò giúp sức trong đồng phạm không đáng kể, do đó chấp nhận kháng cáo của các b cáo Trần Công K1, Nguyễn Anh K, một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại cũng như một phần lời ào chữa của luật sư cho các cáo, sửa bản án s thẩm, giảm cho các cáo K và K1 một phần hình phạt, nhưng không thể cho b cáo K được hưởng án treo như yêu cầu của đại diện hợp pháp của người b hại và lời ào chữa của luật sư.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên cáo Đoàn Văn Đ phải ch u án phí hình sự phúc thẩm; yêu cầu kháng cáo của các cáo Trần Công K1 và Nguyễn Anh K được chấp nhận nên không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. - Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đoàn Văn Đ và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại, giữ nguyên ản án s thẩm về phần hình phạt đối với các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ.
- Chấp nhận kháng cáo của các cáo Trần Công K1, Nguyễn Anh K và một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại, sửa bản án s thẩm, giảm hình phạt cho các cáo Trần Công K1, Nguyễn Anh K.
Tuyên ố: Các cáo Trần Ngọc Hữu T, Đoàn Văn Đ, Trần Công K1, Nguyễn Anh K phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57, Điều 58 Bộ luật hình sự. Đối với b cáo Nguyễn Anh K áp dụng thêm Điều 91, Điều 101, Điều 102 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: - Trần Ngọc Hữu T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-6-2020.
- Đoàn Văn Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-10-2019.
- Trần Công K1 03 ( a) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-5-2020.
- Nguyễn Anh K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-5-2020.
2. – Về án phí: Đoàn Văn Đ phải ch u 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Trần Công K1, Nguyễn Anh K không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
3. – Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm về phần tội danh và hình phạt của các cáo Lê Nguyễn Công T2, Nguyễn Hữu Thiên N1, Phan Hồng Q, phần xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - C quan CSĐT - Công an thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV - Công an thành phố Đà Nẵng; - C quan CSTHAHS - CA thành phố Đà Nẵng; - Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng; - Cục THADS thành phố Đà Nẵng; - Trại tạm giam CA thành phố Đà Nẵng; - B cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thanh Liêm |