vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Huỳnh Tô V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[1] Xử phạt: Bị cáo Trần Huỳnh Tô V Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Huỳnh Tô V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Huỳnh Tô V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày: 28/2/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Kim Thạnh

2. Ông Đặng Hữu Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với

- Bị cáo:

Trần Huỳnh Tô V, tên gọi khác: P, sinh năm: 1991; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm T, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng Đ sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm: 1996; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 8 nghỉ. Sau đó, học và sinh sống bằng nghề lái xe thuê. Ngày 29 tháng 10 năm 2019 bị Công an Quận A, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2019.

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị N

Sinh năm: 1953

Địa chỉ: khóm T, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4 năm 2018, Trần Huỳnh Tô V cho anh Nguyễn Huỳnh Đ vay nhiều lần tổng cộng 15.000.000 đồng, vay không thời hạn, lãi 30%/tháng; cho anh Nguyễn Văn T (cha của Đ) vay 3.000.000 đồng, mỗi ngày trả 100.000 đồng, trả trong 36 ngày. Sau đó, anh Đ trả lãi cho V được khoảng 4 tháng nhưng chỉ trả với số tiền khoảng 300.000 đồng/tháng, anh T trả được 21 ngày thì ngưng. Khoảng tháng 5 năm 2018, V gặp anh T đòi nợ thì anh T nhận thêm phần nợ của Đ và cam kết mỗi tháng trả 3.000.000 đồng và không tính lãi thì V đồng ý. Anh T trả cho V được 01 tháng thì ngưng.

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 9 năm 2018, D (không rõ họ, địa chỉ) chở V bằng xe mô tô đến khu vực phường M, thành phố LX. Khi đến nhà bà Nguyễn Thị N (mẹ vợ anh T) ở khóm T, phường M thì V kêu D dừng lại để V vào nhà tìm anh T. Lúc này, V mở cốp xe lấy cây gậy ba khúc, bằng sắt, dài khoảng 45cm vào nhà bà N hỏi có anh T ở nhà không thì được bà N cho biết T không có trong nhà. V liền cầm cây gậy ba khúc đập vỡ cửa kính bên trái nhà bà N rồi lên xe cho D chở đi. Sau đó, bà N đến Công an phường M tố giác hành vi trên của V.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 172/KL.HĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LX xác định: 01 cánh cửa đi kính màu trắng, kích thước 1,2 x 2,5 x 0,01m bị vỡ, công thợ, vật tư, tổng thiệt hại 2.295.000 đồng.

Tại cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 25/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Trần Huỳnh Tô V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Tô V từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xét đến.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

1. 01 (một) bộ tay cầm cửa kính, chiều dài 0,6 m, thân tròn bằng kim loại và thủy tinh

2. 01 (một) bộ khóa cửa bằng kim loại.

3. Nhiều mảnh vở bằng thủy tinh.

Bị cáo Trần Huỳnh Tô V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp quy định pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 9 năm 2018 bị cáo Tô V khi không đòi tiền được từ con rể của bà N, đã vô cớ dùng gậy đập vỡ cửa kính bên trái nhà bà N tổng thiệt hại 2.295.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về tính chất mức độ của hành vi:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì không đòi được tiền đã cho T và Đ vay trước đó mà cố ý gây hư hỏng tài sản của bà N trong khi không có mâu thuẫn gì với bà N, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại, đầu thú, bị hại có đơn xin bãi nại theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt:

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thiệt hại xảy ra không lớn (2.295.000 đồng) và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, bà N có đơn xin bãi nại đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo và bị cáo đã bị tạm giam 04 tháng nên mức án bằng thời gian tạm giam cũng tương xứng với tính chất hành vi của bị cáo và nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Huỳnh Tô V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ vào:

- khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 333; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Xử phạt:

Bị cáo Trần Huỳnh Tô V

04 (bốn) tháng 03 (ba) ngày tù

Thời hạn tù tính từ ngày: 29/10/2019. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Huỳnh Tô V đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[2] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

1. 01 (một) bộ tay cầm cửa kính, chiều dài 0,6 m, thân tròn bằng kim loại và thủy tinh

2. 01 (một) bộ khóa cửa bằng kim loại.

3. Nhiều mảnh vở bằng thủy tinh.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên)

[3] Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)

Cỡ chữ