vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Hà Phúc B 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Phúc B. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "16 - 2020 Ha Phuc B K1-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hà Phúc B 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày: 21 – 02 – 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thanh Vân.

2. Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 07/02/2020 đối với bị cáo:

Hà Phúc B, sinh ngày 11/5/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: Số 240/5 Đường P, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Số 324/7/2F5 Đường P, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn P và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Bị hại: Anh Danh Q, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Nhà trọ không số, tổ 52, khu phố 5, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Trần Thị Mỹ T, sinh năm: 1992; nơi cư trú: ấp Bà Lang, xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 15/9/2019; Lê Hữu R (sinh năm 1994) điều khiển xe gắn máy biển số 64H6-0060 ch bạn là Hà Phúc B đi chơi. Khi cả hai đến trước nhà trọ không số, tổ 52, khu phố 5, Phường 7, Quận 8 thì R kêu B đứng đợi, còn R đi vào trong nhà lấy trộm 01 loa hát Karaoke hiệu TeMeiSheng và 01 Micro không dây, hiệu UHF của anh Danh Q đem ra gần hàng rào nhà trọ để sẵn rồi đi ra lên xe B ch đi. Khoảng 10 phút sau, B và R quay lại nhà anh Q; R nói B vào nhà anh Q lấy trộm tài sản, còn R đứng bên ngoài cảnh giới thì B đồng ý. B đi vào lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 của anh Q rồi khiêng chiếc loa và micro mà R đã lấy trộm trước đó đi ra lên xe R ch tẩu thoát thì bị quần chúng nhân dân nghi vấn đuổi theo đến gần bến đò Rạch Cát Sau (thuộc Phường 7, Quận 8) thì B nhảy xuống xe chạy bộ, còn R chạy xe đến cách bến đò khoảng 5 mét thì bị té ngã, R nhảy xuống sông Kênh Đôi bơi về hướng Phường 15, Quận 8; còn B cũng nhảy xuống sông Kênh Đôi định tẩu thoát, nhưng bơi được một lúc thì bị đuối nước, nên bơi lại vào bờ và bị quần chúng nhân dân bắt giao Công an Phường 7, Quận 8. Công an thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4, 01 loa hát Karaoke hiệu TeMeiSheng, 01 Micro không dây hiệu UHF và 01 xe gắn máy biển số 64H6-0060 do B giao nộp. Tại Công an Phường 7, Quận 8; B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển giao đến Cơ quan điều tra Quận 8 điều tra làm rõ.

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 15/9/2019; quần chúng nhân dân phát hiện Lê Hữu R chết trôi sông tại trước số 357 Đường P, Phường M, Quận T; nên đến Công an Quận 8 trình báo. Theo kết luận giám định pháp y về tử thi thì Lê Hữu R chết do ngạt nước. Quá trình điều tra, nhận thấy không có dấu hiệu của vụ án hình sự; nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định không kh i tố vụ án hình sự đối với vụ việc Lê Hữu R chết do ngạt nước.

Ngày 28/10/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Trị giá 01 loa hát Karaoke hiệu TeMeiSheng là 3.800.000 đồng, 01 Micro không dây hiệu UHF là 250.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 là 550.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị mất trộm là 4.600.000 đồng.

Ngày 08/11/2019, Cơ quan điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định kh i tố vụ án hình sự, kh i tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hà Phúc B về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tại cơ quan điều tra, Hà Phúc B khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4, 01 loa hát Karaoke hiệu TeMeiSheng và 01 Micro không dây hiệu UHF cho anh Danh Q và anh Q không yêu cầu bồi thường.

Chiếc xe gắn máy biển số 64H6-0060, nhãn hiệu Yamato, số khung: RPDDCG5PD7A002005, số máy: VLFPD1P50FMG-3-7A002005. Qua điều tra, xác minh số khung, số máy không thay đổi và do chị Trần Thị Mỹ T (sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: Ấp Bà Lang, xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) đứng tên chủ s hữu; hiện chị T không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra ra thông báo tìm chủ s hữu xe gắn máy trên, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Bản cáo trạng số 19/CT – VKS ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hà Phúc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Hà Phúc B mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Đồng thời đề nghị miễn phần hình phạt bổ sung cho bị cáo (do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khó thi hành).

Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu; nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại, nên không xem xét xử lý. Đối với chiếc xe gắn máy biển số 64H6-0060 cần tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp; nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Phúc B đã khai nhận: Để có tiền tiêu xài, nên bị cáo đã cùng với Lê Hữu R thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là một chiếc loa hát Karaoke, hiệu TeMeiSheng và một Micro không dây, hiệu UHF cùng một điện thoại di động, hiệu Iphone 4; của bị hại là anh Danh Q; vào khoảng hơn 07 giờ, ngày 15/9/2019, tại nhà trọ không số, tổ 52, khu phố 5, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường tẩu thoát thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Riêng Lê Hữu R nhảy xuống sông trốn thoát.

Xét lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tài sản mà bị cáo cùng với Lê Hữu R chiếm đoạt, qua định giá có tổng trị giá là 4.600.000 đồng (thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).

Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Hà Phúc B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại, nên gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Hà Phúc B là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt một số tiền nhất định để nộp vào ngân sách nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu, tại phiên tòa vắng mặt; xét đây là quyền tự định đoạt của đương sự, nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe gắn máy biển số 64H6-0060, nhãn hiệu Yamato, số khung: RPDDCG5PD7A002005, số máy: VLFPD1P50FMG-3-7A002005; đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội; tuy nhiên chưa xác định được chủ s hữu hợp pháp của chiếc xe; nên cần tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp, nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Hữu R đã chết, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Hà Phúc B 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Phúc B.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy, biển số 64H6-0060, nhãn hiệu Yamato, số khung: RPDDCG5PD7A002005, số máy: VLFPD1P50FMG-3-7A002005; nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/02/2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hà Phúc B phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm nghìn đồng).

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt; có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ