- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Ngọc Bảo V - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Bảo V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HS-ST Ngày: 16-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Nam Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Xuyến;
2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
PHAN NGỌC BẢO V, sinh ngày 19/10/1999 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: ấp M, Thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn Đ và bà Phan Thị H; Chồng, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị Công an Quận 7 bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2019 về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
(Bị cáo V có mặt)
- Bị hại:
Chị Phùng Thị Kim O, sinh năm: 1977.
Địa chỉ thường trú: Số 55/54/40c Thành M, Phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: 33 Trần Văn Đ, Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phan Thị H, sinh năm: 1976.
Hộ khẩu thường trú: 353 ấp M, Thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Ngọc Bảo V được người quen giới thiệu chị Phùng Thị Kim O là chủ tiệm uốn tóc “H” tại số 33 Trần Văn Đ, Phường C, Quận B để làm quen và tư vấn đầu tư chứng khoán. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Phan Ngọc Bảo V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị O nên bị cáo V đã đưa ra thông tin gian dối là bị cáo là nhân viên Công ty Chứng khoán và rủ chị O đầu tư vào chứng khoán. Vào khoảng giữa tháng 11/2018, bị cáo V mở 01 tài khoản dùng thử (loại tài khoản để khách hàng làm quen, không có tiền thật và không yêu cầu khách hàng bỏ ra chi phí nào), số tài khoản 5008585 mang tên Phùng Thị Kim O, trị giá 10.000 USD tương đương 235.000.000 đồng và yêu cầu chị O nộp tiền vào tài khoản trên. Đồng thời, bị cáo V còn tạo một nick zalo tên “Lucas Phạm” giả mạo chị Phạm Ngọc E (là cấp trên của V) để nhắn tin yêu cầu chị O chuyển tiền giải quyết các sự cố trong quá trình đầu tư chứng khoán. Do tin tưởng bị cáo V nên từ ngày 05/12/2018 đến 28/01/2019, tại số 33 Trần Văn Đang, Phường 9, Quận 3, chị O đưa tiền mặt cho bị cáo V 05 lần với số tiền 100.600.000 đồng; chuyển khoản vào số tài khoản: 060175272715 của bị cáo tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 04 lần với tổng số tiền 108.000.000 đồng (trong đó có 20.000.000 là tiền chị O cho bị cáo V vay) và 01 lần bị cáo V yêu cầu chị O chuyển vào tài khoản của bạn bị cáo V tên Nguyễn Thị Lý Hương số tiền 6.500.000 đồng. Tổng cộng chị O đưa cho bị cáo V số tiền 215.100.000 đồng. Sau khi nhận tiền của chị O, bị cáo V không nạp tiền vào tài khoản cho chị O như đã hứa mà dùng để tiêu xài cá nhân. Sau đó, chị O thấy tài khoản số 5008585 của mình lên đến 15.000 USD nên yêu cầu bị cáo V rút số tiền trên nhưng bị cáo không rút tiền và cố tình tránh mặt chị O. Đến ngày 26/02/2019, chị O phát hiện bị cáo V trên đường Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 và nghi ngờ mình bị lừa nên đã đến Công an Phường 5, Quận 3 trình báo sự việc.
Ngoài ra, chị Hồ Thị H (ngụ tại 171 Võ Văn T, Phường N, Quận B) có nhờ bị cáo Phan Ngọc Bảo V tư vấn về đầu tư chứng khoán. Khi bị cáo V giới thiệu bị cáo làm ở Công ty BBM Trade nhưng không xuất trình được giấy chứng minh nhân dân, thẻ nhân viên công ty nên chị Hồng nghi ngờ và không thực hiện giao dịch với bị cáo V.
Qua quá trình điều tra, bị cáo Phan Ngọc Bảo V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như trên.
Về trách nhiệm dân sự:
- Gia đình bị cáo Phan Ngọc Bảo V đã bồi thường cho chị Phùng Thị Kim O số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) đồng, chị O yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền còn lại 155.100.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng).
Vật chứng của vụ án:
- Số tiền 195.100.000 đồng chiếm đoạt được bị cáo Phan Ngọc Bảo V đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.
Tại Bản cáo trạng số 94/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Bảo V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay,
Bị cáo Phan Ngọc Bảo V có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi mẹ của bị cáo và mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại chị Phùng Thị Kim O vắng mặt tại phiên tòa và yêu cầu bị cáo Phan Ngọc Bảo V bồi thường số tiền còn lại 155.100.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Phan Thị H (mẹ của bị cáo) đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), chị H xác định cho bị cáo số tiền này và không yêu cầu bị cáo pH bồi hoàn cho mình. Chị H không yêu cầu Hội đồng đồng xét xử giải quyết vấn đề này trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Bảo V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Bảo V từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng giữa tháng 11/2018 khi bị cáo Phan Ngọc Bảo V đến làm tóc tại tiệm làm tóc “Hân” tại địa chỉ số 33 Trần Văn Đ, Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do bị hại – chị Phùng Thị Kim O làm chủ, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị O. Bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối là bị cáo là nhân viên của Công ty Chứng khoán (Trong khi thực tế bị cáo chỉ làm nhân viên tư vấn tại Công ty JP Marketing từ tháng 8/2018 đến tháng 11/2018) và rủ chị Kim O tham gia đầu tư chứng khoán. Nhằm để chị Kim O tin tưởng, bị cáo đã mở một tài khoản ảo 01 tài khoản dùng thử (loại tài khoản để khách hàng làm quen, không có tiền thật và không yêu cầu khách hàng bỏ ra chi phí nào), số tài khoản 5008585 mang tên Phùng Thị Kim O. Bị cáo yêu cầu chị O đưa cho bị cáo số tiền 10.000 USD để bị cáo nạp tiền vào tài khoản chứng khoán cho chị O. Do tin tưởng bị cáo V nên từ ngày 05/12/2018 đến 28/01/2019, tại số 33 Trần Văn Đ, Phường C, Quận 3, chị O đưa tiền mặt cho bị cáo V 05 lần với số tiền 100.600.000 đồng và chuyển khoản 04 lần vào số tài khoản: 060175272715 của bị cáo tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với tổng số tiền 108.000.000 đồng (trong đó có 20.000.000 là tiền chị O cho bị cáo V vay), 01 lần bị cáo V yêu cầu chị O chuyển vào tài khoản của bạn bị cáo V tên Nguyễn Thị Lý Hương số tiền 6.500.000 đồng. Tổng cộng chị O đưa cho bị cáo V số tiền 215.100.000 đồng (trong đó có 20.000.000 đồng là tiền bị cáo V vay của chị O), như vậy số tiền bị hại đưa cho bị cáo để dùng đầu tư chứng khoán là 195.100.000 đồng (một trăm chín mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng). Nhưng thực tế bị cáo đã dùng số tiền 195.100.000 đồng (một trăm chín mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng) mà chị O đưa để tiêu xài cá nhân mà không thực hiện việc đầu tư chứng khoán. Khi số tiền trong tài khoản đầu tư lên đến 15.000 USD, chị O yêu cầu bị cáo rút tiền ra nhưng bị cáo đã không rút tiền và cố tình tránh mặt chị O. Đến ngày 26/02/2019, chị O phát hiện bị cáo V trên đường Võ Văn T, Phường N, Quận 3 và nghi ngờ minh bị lừa nên đã đến Công an Phường 5, Quận 3 trình báo sự việc.
Bị cáo V có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý.
Hành vi của Bị cáo V đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phan Ngọc Bảo V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo Phan Ngọc Bảo V đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Ngọc Bảo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Do đó, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Bị cáo V.
Về tình tiết tăng nặng: Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo V đã đưa ra các thông tin về thị trường chứng khoán khiến bị hại chị O nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo cụ thể: chuyển vào tài khoản của bị cáo ngày 12/12/2018 số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), ngày 21/01/2019 số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) và ngày 24/01/2019 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), chuyển cho bị cáo thông qua tài khoản của bạn bị cáo là Nguyễn Thị Lý H số tiền: 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng) và giao tiền trực tiếp cho bị cáo cụ thể: ngày 05/12/2018 số tiền: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), ngày 07/12/2018 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), ngày 09/01/2019 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng, ngày 17/01/2019: số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), ngày 28/01/2019 số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm ngàn đồng). Mỗi lần bị cáo đưa ra thông tin gian dối để bị hại đưa tiền với định lượng đều đủ cấu thành tội phạm do đó áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo V.
Ngoài ra, chị Hồ Thị H (ngụ tại 171 Võ Văn T, Phường N, Quận B) có nhờ bị cáo Phan Ngọc Bảo V tư vấn về đầu tư chứng khoán. Khi bị cáo V giới thiệu bị cáo làm ở Công ty BBM Trade nhưng không xuất trình được giấy chứng minh nhân dân, thẻ nhân viên công ty nên chị Hồng nghi ngờ và không thực hiện giao dịch với bị cáo V do đó chưa đủ căn cứ xử lý đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H (mẹ của bị cáo) đã bồi thường cho bị hại – chị Phùng Thị Kim O số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) bà H không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền này do đó không xem xét giải quyết.
Bị hại – chị Phùng Thị Kim O đã được bà Phan Thị H – mẹ của bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) và tiếp tục yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 155.100.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng) là phù hợp với quy định.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Ngọc Bảo V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Ngọc Bảo V phải chịu 7.755.000 đồng (bảy triệu bảy trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Bảo V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Bảo V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/9/2019.
Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Bị cáo Phan Ngọc Bảo V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại – bà Phùng Thị Kim O số tiền 155.100.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn thi hành án của bị hại – chị Phùng Thị Kim O cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Phan Ngọc Bảo V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Ngọc Bảo V phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng);
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Ngọc Bảo V phải chịu 7.755.000 đồng (bảy triệu bảy trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; -VKS ND Quận 3; - TAND TP.HCM ; - Chi cục THADS Quận 3; - Công an Quận 3; - PC53-CATP.HCM - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Nam Phương |