vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 07 ngày. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH
{
Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày: 13/5/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

- Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Bùi Văn Quyết

+ Ông Bùi Văn Tấn

- Thư ký ghi biên bản phiên toà bà: Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà ông Nguyễn Công Dương-Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.

Ngày 13/5/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXXST-HS ngày 29/4/2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 02/10/1992; tại: xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm Re, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông. Con ông: Bùi Văn B, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị R, sinh năm 1969. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

Tiền án:

Bị cáo có 01 tiền án: ngày 22/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.

Tiền sự:

Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 30/07/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến ngày 20/4/2019 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2020 đến ngày 21/02/2020 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Bùi Văn L, sinh năm 1964; Địa chỉ: xóm Khi, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

+ Bà Bùi Thị H, sinh năm 1967; Địa chỉ: xóm Khi, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Bùi Văn T, sinh năm 1990; Địa chỉ: xóm Ngái, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

+ Ông Bùi Văn C, sinh năm 1944; Địa chỉ: xóm Ngái, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

+ Bà Trần Thị B, sinh năm 1946; Địa chỉ: phố Lâm Hóa 2, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/02/2020, Bùi Văn T đi bộ dọc theo đường từ xóm Re, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đến nhà ông Bùi Văn L, sinh năm 1964, trú tại xóm Khi, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình thấy không có người trông coi nên T đã trèo lên nóc nhà tắm tiếp giáp với khoảng trống của bếp rồi chui vào bên trong nhà. Vào được trong nhà, Bùi Văn T đã lấy trộm 01 chiếc tivi màn hình phẳng màu đen, nhãn hiệu FUSHIKA, kích thước 32 inch và mở cửa bếp để đi ra ngoài. Lấy được tài sản Bùi Văn T đã đem chiếc ti vi vừa trộm cắp được đến bãi đất trống ở khu vực hồ Re, xã Ân Nghĩa để cất giấu rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà T đã gọi điện cho Bùi Văn T, sinh năm 1990, trú tại xóm Ngái, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình lấy xe mô tô đến hồ Re để chở T đi chơi, rồi T lại đi bộ quay lại hồ Re đợi T. Khoảng 30 phút sau T đến nơi, T bảo T chở tivi lên cửa hàng mua bán phế liệu Hiếu Tính tại phố Lâm Hóa, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình và bán được 600.000đ, số tiền bán được T tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 14/02/2020, Bùi Văn T đến Công an huyện Lạc Sơn đầu thú.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/ĐG-HĐĐG ngày 20/2/2020 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện Lạc Sơn kết luận: Giá trị thực tế còn lại tại thời điểm bị xâm hại là giá trung bình cộng của 03 cửa hàng (2.500.000đ + 2.600.000đ + 2.550.000đ)/3 = 2.550.000đ

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ xe 01 chiếc tivi màn hình phẳng màu đen, nhãn hiệu FUSHIKA, kích thước 32 inch, tivi đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Công an huyện Lạc Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn L.

Đối với anh Bùi Văn T là người đưa T đi tiêu thụ tài sản nhưng T không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý

Đối với bà Trần Thị B chủ cửa hàng thu mua phế liệu nhưng chị Bích không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không đề cập xử lý.

Đối với ông Bùi Văn C là người thu mua lại chiếc tivi từ cửa hàng thu mua phế liệu nhưng ông Cành không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không đề cập xử lý.

Về phần dân sự: Người bị hại là ông Bùi Văn L đã nhận được lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn C đã được gia đình T bồi thường lại số tiền 1.000.000đ nên không có yêu cầu đề nghị gì.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 30/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện Kiểm sát công bố bản luận tội. Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt Bùi Văn T từ 15 đến 20 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo do không có tính khả thi.

Vật chứng của vụ án: Không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Đối với anh Bùi Văn T là người đưa T đi tiêu thụ tài sản nhưng T không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên HĐXX không đề cập xem xét.

Đối với bà Trần Thị B chủ cửa hàng thu mua phế liệu nhưng chị Bích không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên HĐXX không đề cập xem xét.

Đối với ông Bùi Văn C là người thu mua lại chiếc tivi từ cửa hàng thu mua phế liệu nhưng ông Cành không biết đó là tài sản T do phạm tội mà có nên HĐXX không đề cập xem xét.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát.Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng.

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật

. Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/2/2020, bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, không có người trông coi quản lý tài sản, T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc tivi màn hình phẳng, màu đen, nhãn hiệu FUSHIKA, kích thước 32 inch, trị giá 2.550.000đ của gia đình ông Bùi Văn L. Bùi Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bùi Văn T là bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ, nhưng chây lười lao động. Để có tiền tiêu xài cá nhân, T đã trộm cắp tivi của ông Bùi Văn L. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, không những gây thiệt hại về tài sản mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra.

. Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án: ngày 22/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 36 tháng. Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 30/07/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến ngày 20/4/2019 chấp hành xong.

. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét về nhân thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sinh ra và lớn lên làm ăn tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo ra đầu thú, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả mà bị cáo gây ra nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Về mức hình phạt: HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân xấu cần phải áp dụng một hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để dăn đe giáo dục đối với bị cáo. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, xử phạt bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Trong vụ án này, anh Bùi Văn T, bà Trần Thị B, ông Bùi Văn C là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do anh T, bà Bích, ông Cành không biết nguồn gốc chiếc ti vi đó là do T trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở rút kinh nghiệm chung trong công tác phòng chống tội phạm.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Văn L 01 chiếc tivi màn hình phẳng, màu đen, nhãn hiệu FUSHIKA, kích thước 32 inch. Đây là tài sản thuộc sở hữu của ông Lùi. Sau khi nhận lại tài sản, ông Lùi không có ý kiến gì và việc xử lý vật chứng nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 07 ngày.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết 326/NQ-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ