vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ A T (Tên gọi khác: Pả Sơn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ A T: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/5/2020. Giao bị cáo Hồ A T cho Ủy ban nhân dân xã Hướng Lộc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giám sát giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo, gia đình của b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ A T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ A T (Tên gọi khác: Pả Sơn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 04-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quốc Hải;

2. Bà Đoàn Thị Kim Dung;

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bé là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đợi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Hồ A T (Tên gọi khác: Pả Sơn); sinh ngày 01/01/1986 tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ A C (đã chết) và bà Hồ Thị B; hiện chung sống như vợ chồng với Hồ Thị Phăng (không đăng ký kết hôn); có 04 con: nhỏ sinh năm 2020, lớn sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ A T: Ông Trần Đại Nghĩa - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị. (Có mặt)

Người bị hại: Ông Hồ H; sinh năm 1961; Nơi cư trú: thôn K, xã L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt có đơn xin được xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

- Chị Hồ Thị Phăng; sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn Của, xã Hướng Lộc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

- Ông Hồ Cu Tấc; sinh năm 1982; Nơi cư trú: thôn Kỳ Nơi, xã A Túc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.

Người phiên dịch: Ông Lê Bá Vân; Công tác tại: Hội nông dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 25/7/2019, Hồ A T cùng với Hồ Thị Phăng cùng nhau đi bộ làm cỏ ở rẫy sắn của gia đình ở thôn Của, xã Hướng Lộc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì cả hai đi bộ về nhà, trên đường về cách vị trí rẫy sắn của Hồ A T khoảng 01 km, Hồ A T tình cờ nhìn lên khu vực đồi trọc cách vị trí Hồ A T đang đứng 200m có 01 đàn dê gồm 06 con dê của ông Hồ H ở thôn Kỳ Nơi, xã A Túc, huyện Hướng Hóa đang ăn cỏ trên đồi không có người trông giữ đàn dê nên Hồ A T nãy sinh ý định bắt trộm 01 con dê với mục đích là đưa về nhà để làm thịt ăn. Thấy vậy, Hồ A T nới với Hồ Thị Phăng: “Dê tề, đi bắt trộm đi”, thì Phăng trả lời: “Đừng, dê của họ, họ cũng muốn nuôi” đồng thời can ngăn T đừng bắt trộm dê nhưng Hồ A T không nghe mà một mình đi bộ đến khu vực đồi nơi đàn dê ăn cỏ để bắt trộm dê, còn Hồ Thị Phăng không đi theo mà đứng đợi tại đường mòn. Hồ A T đi đến đàn dê, quan sát xung quanh không có người, dùng hai tay nắm vào vùng cổ của con dê đực rồi đè con dê nằm xuống đất, tay trái dùng tỳ đè ở phần cổ con dê, tay phải nhặt một cục đá nặng khoảng 01 kg có kích thước khoảng 12cm x 10 cm ở cạnh vị trí nơi Hồ A T đang đè con dê đập liên tiếp 06 cái vào vùng đầu của con dê thì con dê chết. Sau khi đập chết con dê đực xong, T thấy có 01 con dê cái đứng ở gần đó và đang kêu to, do lo sợ bị người khác phát hiện nên Hồ A T đi đến dùng hai tay chụp chụp vào phần cổ con dê cái rồi đè con dê nằm xuống đất và dùng cục đá trước đó và đập liên tiếp vào đầu con dê cho đến khi con dê chết (Quá trình điều tra không thu giữ được cục đá nêu trên). Sau đó, Hồ A T vứt cục đá rồi tìm dây thừng buộc 04 chân của 02 con dê lại, con dê đực Hồ A T vác trên vai phải, con dê cái thì Hồ A T cầm xách ở tay rồi đi ra phía đường mòn nơi Hồ Thị Phăng đang đứng đợi. Gặp Phăng, T nói với Phăng: “Phăng ơi, vác dê ni, chết rồi”, Phăng sợ không chịu vác dê thì T quát nạt và nói to “Vác đi, lỡ đập chết rồi” nên buộc Phăng phải vác con dê cái còn T vác con dê đực rồi cả hai đi bộ theo đường mòn về nhà. Đi được 200m thì gặp ông Hồ H và anh Hồ Cu Tấc đang đi theo hướng ngược lại. Ông H nhìn thấy T liền hỏi: “Vác cái chi”. Hồ A T hoảng hốt vứt bỏ con dê đực đang vác trên vai xuống đất và bỏ chạy, Hồ Thị Phăng thấy vậy cũng vứt bỏ con dê cái xuống đất mà chạy theo Hồ A T về nhà. Ông Hồ H thấy vậy nên mang 02 con dê trên về nhà và làm thịt chia cho mọi người cùng ăn.

Kết luận định giá tài sản số 46/KL-ĐGTS ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hướng Hóa kết luận:

01 con dê đực, lông màu vàng nâu, có trọng lượng 20kg trị giá là 3.400.000 đồng; 01 con dê cái, lông màu đen, trọng lượng 18kg trị giá là 3.060.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 6.460.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hồ A T, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thống nhất với Kết luận định giá tài sản ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hướng Hóa.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSHH ngày 02 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố Hồ A T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

-Theo đơn xin xét xử vắng mặt của ông Hồ H trình bày yêu cầu bị cáo Hồ A T bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng do bị thiệt hại về tài sản và đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Hồ A T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hồ A T đúng theo nội dung bản cáo trạng. Đề nghị HĐXX: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Hồ A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ A T từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ .

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hồ A T phải bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng cho ông Hồ H.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ A T bào chữa: Đồng ý với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc về hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo và trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi mẹ già và 04 con nên chưa thể bồi thường được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị là 06 tháng cải tạo không giam giữ.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Về bồi thường dân sự: Bị cáo Hồ A T trình bày chấp nhận yêu cầu của bị hại và hứa sẽ bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng cho ông Hồ H .

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các chứng cứ xác định có tội: Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Hồ A T với ý thức mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác, ngày 25/7/2019 bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác nên đã chiếm đoạt 02 con dê trị giá 6.460.000 đồng của ông Hồ H. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Gia đình bị cáo Hồ A T thuộc gia đình hộ nghèo và là người lao động chính trong gia đình và phải nuôi các con nhỏ, do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nên áp dụng khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội.

Về các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Hồ H đã nhận lại hai con dê bị cáo bỏ lại về làm thịt ăn, nên ông Hồ H không yêu cầu bồi thường toàn bộ giá trị 6.460.000 đồng mà chỉ yêu cầu bị cáo Hồ A T bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo Hồ A T đồng ý bồi thường. Vì vậy, cần áp dụng Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo Hồ A T phải bồi thường cho ông Hồ H số tiền 4.000.000 đồng.

Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ A T phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự

Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ A T (Tên gọi khác: Pả Sơn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ A T: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/5/2020.

Giao bị cáo Hồ A T cho Ủy ban nhân dân xã Hướng Lộc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giám sát giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo, gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Huongs Lôc trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ A T phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Hồ H số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng chẳn).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền đã tuyên mà bên phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất phát sinh do chậm trả tiền quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ A T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yêt.

Cỡ chữ