vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 09/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Kể từ ngày Quyết định có hiệu luật pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠ HUOAI
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 09-9-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Vĩnh

Ông Cao Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vƣơng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Mộng Bảo - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/HSST-QĐ ngày 12-6-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/HSST-QĐ ngày 08-7-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/HSST-QĐ ngày 29-7-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HSST-QĐ ngày 06-8-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/HSST-QĐ ngày 19-8-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Minh T, sinh năm 1983 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi cư trú thôn A, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp làm vườn; trình độ học vấn 04/12; dân tộc Sách; giới t nh nam; tôn giáo không; con ông Đinh Minh Điền, sinh năm 1959 và bà Đinh Thị Nhung, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1994; vợ Vi Thị Thơm, sinh năm 1986 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang được tại ngoại tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

- Bị hại: Anh K’ Dần, sinh năm 1998; trú tại thôn 3, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Trung Hiếu, sinh năm 2001; trú tại thôn 5, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

2. Anh Trương Minh Quý, sinh năm 2000; trú tại thôn 5, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

3. Anh Đinh Văn Tiên, sinh năm 2001; trú tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

4. Chị Cao Thị Thu, sinh năm 1983; trú tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

5. Anh Đinh Minh Tư, sinh năm 1982; trú tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

6. Bà Đinh Thị Nhung, sinh năm 1959; trú tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

7. Chị Lương Thị Thương, sinh năm 2005; trú tại thôn 1, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 22-10-2019, sau khi đi đám tang ở thôn 5, xã Đạ Ploa về Đinh Minh T có ghé vào nhà của ông Đinh Minh Tư và ngồi uống rượu cùng với nhóm bạn cùng xã của Đinh Văn Tiên (Tiên là cháu ruột của Tuân gọi Tuân bằng chú) gồm có: K’Duẩn, K’Dần, Đinh Trung Hiếu, Trương Văn Quý và K’Yên. Trong lúc ngồi nhậu, giữa Tuân và Hiếu có x ch m ch dẫn đến việc Tuân và Tiên cải vã, vật lộn nhau trước cửa nhà nhưng đã được mọi người can ngăn. Do nghe tiếng một người nào đó trong nhóm bạn của Tiên có lời nói khiêu kh ch nên Tuân bực tức, đi vào nhà bếp lấy được 02 con dao: 01 con dao cầm ở tay phải và 01 con dao nhỏ cầm ở tay trái. Thấy Tuân cầm dao, bà Đinh Thị Nhung (là mẹ của Tuân), Lương Thị Phương (là con gái của Tuân) và K’Dần vào ôm, giữ và ngăn Tuân lại. Trong khi K’Dần đang nắm giữ tay phải của Tuân liền bị Tuân vung tay trái đang cầm con dao thái lan đâm trúng cổ của K’Dần. Thấy vậy, mọi người vào khống chế và giữ Tuân lại, thu hết các con dao mà Tuân đang cầm, K’Dần cũng được mọi người cấp cứu tại Bệnh viện II Lâm Đồng, sau đó chuyển xuống Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Ch Minh để điều trị. Quá trình điều tra Đinh Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Người bị hại: anh K’Dần, sinh ngày 02-10-1998; trú tại thôn 3, xã Đoàn Kết, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng bị một vết thương vùng cổ trước (P) dài #1,5 cm, rộng #01 cm, sâu #6 cm, đi chếch vô trong và ra sau, xuống dưới hõm ức làm thủng 01 lỗ kh quản, tràn kh dưới da vùng cổ hai bên. Sau khi điều trị ổn định thương t ch, đến ngày 04-11-2019, bà Ka Sởi - là mẹ của K’Dần có đơn yêu cầu cơ quan Công an giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương t ch số 298/2019/TgT ngày 09/12/2019 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Căn cứ Bảng “Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần” ban hành theo thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12-06-2014 của Bộ trưởng Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân K’Dần 25% (hai mươi lăm phần trăm). Theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.

* Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, lưỡi dài 23 cm, rộng 5 cm, cán bằng kim loại hình tròn dài 8 cm, đường kính 2,3 cm.

- 01 (một) con dao loại dao thái lan dài 20,5 cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9 cm lưỡi bằng kim loại dài 11,5 cm, rộng 2 cm.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, giữa hai bên cũng đã tự thỏa thuận mức bồi thường về toàn bộ chi ph điều trị thương t ch cho K’Dần với số tiền là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Đến nay, Tuân đã bồi thường cho K’Dần số tiền: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), K’Dần yêu cầu bị cáo Tuân tiếp tục bồi thường số tiền còn lại như đã thỏa thuận.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-ĐH ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đinh Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo Đinh Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Tại phần xét hỏi và tranh luận bị cáo khẳng định tội danh mà Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật, không kêu oan, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, về mức hình phạt, mức bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng hành vi gây thương t ch cho người bị hại anh K’ Dần thực hiện với lỗi vô ý chứ không phải lỗi cố ý; tại lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bị hại anh K’Dần khẳng định bị cáo Tuân có hành vi gây thương tích cho bản thân anh vào tối ngày 22-10-2019 với lỗi cố ý trực tiếp; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án; tại phần tranh luận người bị hại đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuân; xác định trong thời gian điều trị tại Bệnh viện II Lâm Đồng thì bị cáo Tuân và gia đình đã bồi thường được 11.000.000 đồng. Sau đó các bên thỏa thuận số tiền mà bị cáo Tuân còn phải bồi thường các khoản (chi phí điều trị, tiền thuốc, tiền viện phí, tiền công bị mất và giảm sút....) với số tiền là 25.000.000đ, bị cáo Tuân đã bồi thường 4.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 21.000.000đ; không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

- Những người làm chứng bà Đinh Thị Nhung, chị Cao Thị Thu, anh Đinh Minh Tiên khẳng định không trực tiếp chứng kiến việc bị cáo Tuân gây thương t ch cho anh K’ Dần mà chỉ biết sự việc qua lời kể lại của người bị hại và các người làm chứng khác; thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát và không có ý kiến gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đinh Minh T từ 24 đến 30 tháng tù; xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, lưỡi dài 23 cm, rộng 5 cm, cán bằng kim loại hình tròn dài 8 cm, đường kính 2,3 cm; 01 (một) con dao loại dao thái lan dài 20,5 cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9 cm lưỡi bằng kim loại dài 11,5 cm, rộng 2 cm; về trách nhiệm dân sự: đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữ bị cáo và người bị hại về số tiền bồi thường là 21.000.000đ; đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội: Lời khai nhận của bị cáo Đinh Minh T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, phương thức cũng như hung kh , công cụ mà bị cáo đã sử dụng để thực hiện tội phạm. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào đêm ngày 22/10/2019 trong lúc đang uống rượu tại nhà ông Đinh Minh Tư, do mâu thuẫn với nhóm bạn của Đinh Văn Tiên (con ông Tư), Tuân đã xuống bếp lấy 02 con dao để giải quyết mâu thuẫn. Khi được mọi người can ngăn, trong đó có K’Dần là bạn của Đinh Văn Tiên đang nắm giữ tay phải của Tuân liền bị Tuân vung tay trái đang cầm con dao thái lan đâm trúng cổ của K’Dần. Kết quả giám định thương t ch các định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên của anh K’Dần là 25%.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình (05 lần tại các búc lục 120; 122; 124; 125; 127) và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng và không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng hành vi gây thương t ch cho anh K’ Dần của bị cáo là vô ý, chứ không phải là cố ý. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong lúc ngồi nhậu, giữa Tuân và Hiếu có x ch m ch dẫn đến việc Tuân và Tiên cải vã, vật lộn nhau trước cửa nhà nhưng đã được mọi người can ngăn sau đó Tuân nghe tiếng một người nào đó trong nhóm bạn của Tiên có lời nói khiêu kh ch nên Tuân bực tức, đi vào nhà bếp lấy được 02 con dao, mục đ ch là để hù dọa. Bị cáo nhận thức được việc bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm có thể dẫn đến gây thương t ch cho người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đến cùng, khi được mọi người vào can ngăn đáng lẽ ra bị cáo phải từ bỏ việc sử dụng hung kh nhằm để trách việc gây thương t ch cho người khác nhưng vì bức tức bỡi những lời nói khiêu kh ch của nhóm bạn của Tiên, thêm vào đó bị cáo đang bị k ch th ch do sử dụng bia, rượu. Do vậy, khi thấy và nghe K’Dần nói “Thôi bỏ đi chú” và ôm bị cáo lại thì ngay lập tức bị cáo vung dao dâm trúng vào vùng cổ anh K’ Dần, mặc dù bị cáo không mong muốn có hậu quả xảy ra nhưng trên thực tế hậu quả đã xảy ra. Như vậy, lỗi của bị cáo trong trường hợp này là lỗi “Cố ý gián tiếp” được quy định tại khoản 2 Điều 10 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố bị cáo tại cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2020 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo đã gây thương t ch cho người khác gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi trái pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó cho thấy bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, gây bức xúc trong đời sống xã hội. Do vậy, cần thiết phải ra một bản án nghiêm khắc phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình con em người lao động; là người đồng bào dân tộc thiếu số nên việc nhận thức pháp luật có phần hạn chế; từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; chỉ vì bực tức và không làm chủ được bản thân nên nhất thời phạm tội. Do vậy, cũng cần xem xét khi lượng hình.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo dùng dao gây thương t ch cho anh K’ Dần. Kết quả giám định thương t ch các định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên của anh K’ Dần là 25%. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra - truy tố - xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường một phần cho người bị hại. Bị cáo có bố ruột là ông Đinh Minh Điền được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng 3. Ngoài ra, tại phiên tòa người bị hại là anh K’ Dần xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy rằng tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng phải cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và công tác phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Buộc Đinh Minh T phải tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu cho anh K’ Dần là 21.000000đ (hai mươi mốt triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đối với 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, lưỡi dài 23 cm, rộng 5 cm, cán bằng kim loại hình tròn dài 8 cm, đường kính 2,3 cm; 01 (một) con dao loại dao thái lan dài 20,5 cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9 cm lưỡi bằng kim loại dài 11,5 cm, rộng 2 cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đinh Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Đinh Minh T phải bồi thường cho bị hại anh K’Dần số tiền 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng).

Kể từ ngày Quyết định có hiệu luật pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại dài 31 cm, lưỡi dài 23 cm, rộng 5 cm, cán bằng kim loại hình tròn dài 8 cm, đường kính 2,3 cm; 01 (một) con dao loại dao thái lan dài 20,5 cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9 cm lưỡi bằng kim loại dài 11,5 cm, rộng 2 cm (hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai theo biên bản giao, nhận vật chứng 28/4/2020).

4. Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án ph hình sự sơ thẩm và 1.050.000đ (một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án ph dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ