vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Mai H được ly hôn anh Phạm Ngọc C

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Gia H1 (sinh ngày 23-02-2014) cho chị Bùi Thị Mai H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Mai H và Phạm Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Mai H được ly hôn anh Phạm Ngọc C
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16-7-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN- TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Bà Đỗ Thị Huê

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2020/TLST - HNGĐ ngày 13-5-2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020,Thông báo mở lại phiên tòa số 01/2020/TB-XX ngày 03-7-2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Mai H, sinh năm 1991 - vắng mặt

Địa chỉ: Xóm 6 ĐN, xã M, huyện MĐ, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Anh Phạm Ngọc C, sinh năm 1992 - vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn ĐT, xã CT, huyện TY, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày11-5-2020 và bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Thị Mai H trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Phạm Ngọc C tại Ủy ban nhân dân xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Giấy đăng ký số: 23/2013 ngày 13-11-2013) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện. Anh chị đã ly thân từ tháng 12-2018 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn nên chị xin ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Phạm Thị Gia H1 (sinh ngày 23-02-2014). Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H1, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị Bùi Thị Mai H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Ngọc C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm Ngọc C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đồng Trò, xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Mai H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Bùi Thị Mai H và anh Phạm Ngọc C là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện, anh chị đã ly thân từ tháng 12-2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình lẩn tránh nên Tòa án không tiến hành hòa giải được về phần con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Quá trình giải quyết vụ án, chị H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, có căn cứ cho chị H được ly hôn với anh C theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị H, anh C có 01 con chung là cháu Phạm Thị Gia H1 (sinh ngày 23-02-2014) hiện cháu còn nhỏ, đang sống ổn định cùng chị Bùi Thị Mai H. Xét thấy để đảm bảo quyền và lợi ích, đảm bảo sự ổn định cuộc sống của cháu H1. Vì vậy, khi ly hôn cần giao cháu H1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Chị Bùi Thị Mai H xác định tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: chị Bùi Thị Mai H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 và Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Mai H được ly hôn anh Phạm Ngọc C

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Gia H1 (sinh ngày 23-02-2014) cho chị Bùi Thị Mai H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Bùi Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0007769 ngày 11-5-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ