- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Ngọc L - anh Trương Trung K"
- Tòa quyết gì? hành xét xử vắng mặt chị Lê Ngọc L, anh Trương Trung K.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST Ngày 26/3/2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chính
2. Ông Lê Bình Triệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án
nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia
phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 470/2019/TLST – HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14A/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc L (vắng mặt)
Bị đơn: Anh Trương Trung K (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã H, Thới Bình, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 11 năm 2019 và trong quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn chị Lê Ngọc L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U ngày 09/01/2015. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, chị L và anh K đã ly thân từ ngày 28/10/2019 đến nay, chị L xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh K được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh K có một người con chung là Trương Nhật H, sinh
ngày 16/10/2015 hiện anh K đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị thống nhất giao cháu H cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên
họp cho anh Nguyễn Trung K nhưng chị không có ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình
phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật; về nội dung vụ án thì các yêu cầu của chị L về hôn nhân; về con chung là có cơ sở chấp nhận; về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản, nợ chung: Không có; về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chị L yêu cầu ly hôn với anh K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Chị L và anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự
sơ thẩm lần thứ 2, chị L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn anh K vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị L và anh K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký
kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do không thông cảm, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng phát mâu thuẫn và đã ly thân từ ngày 28/10/2019 cho đến nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét về tình trạng hôn nhân và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị L giao cháu H cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng là tự
nguyện được Hội đồng xét xử ghi nhận, các đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên
không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu số tiền là 300.000
đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị L đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt chị Lê Ngọc L, anh Trương Trung K.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và
gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc L, anh Trương Trung K được ly hôn.
[2] Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L về việc giao cháu Trương
Nhật H, sinh ngày 16/10/2015 cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L không cấp dưỡng nuôi con. Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng). Ngày 19/12/2019 chị L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010824 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị L và anh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - UBND xã Nguyễn Phích; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |