vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Đoàn Hữu C. Giấy chứng nhận kết hôn số 141 quyển số 01 ngày 15/8/2002 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2020
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức

2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2019/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐ-ST ngày 29/5/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Đoàn Hữu C, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Chị với anh Đoàn Hữu C chung sống với nhau từ năm 1997, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chồng được khoảng 03 năm thì chuyển về nhà cha mẹ ruột chị sống, được khoảng 02 năm thì cất nhà ra ở riêng, đến năm 2006 do kinh tế khó khắn nên vợ chồng chị quyết định lên Bình Dương làm công nhân. Từ khi lên Bình Dương thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh C có sống chung như vợ chồng với người phụ nữa khác, trong thời gian này vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh C có đánh đập chị. Đến năm 2012 do không thể tiếp tục sống chung với anh C được nữa nên chị quyết định sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng cũng có gặp nhau để hàn gắn tình cảm và chị đã quyết định quay lại sống chung nhưng cũng chỉ được thời gian ngắn anh C lại tiếp tục cặp bồ với người khác, do không còn tình cảm nên chị đã quyết định chia tay với anh C và vợ chồng chị cũng chính thức sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn lại được nên chị N yêu cầu giải quyết như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N xin được ly hôn với anh Đoàn Hữu C.

+ Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Đoàn Thị Tuyết N sinh ngày 02/9/1988 đã trưởng thành và Đoàn Hữu T sinh ngày 29/4/2004 hiện đang sống với chị N. Sau ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Bị đơn anh Đoàn Hữu C: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh C nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị N.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của đương sự và lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các văn bản tố tụng được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, tống đạt cho đương sự đầy đủ và đúng theo pháp luật. Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu tham gia phiên tòa đảm bảo theo khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn anh Đoàn Hữu C được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt, do đó anh C phải chịu trách nhiệm pháp lý về sự vắng mặt của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N. Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Đoàn Hữu C.

Về con chung: Chị N được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đoàn Hữu T sinh ngày 29/4/2004. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Đoàn Hữu C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

[1.2] Nguyên đơn chị Lê Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

Bị đơn anh Đoàn Hữu C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Lê Thị N và anh Đoàn Hữu C chung sống với nhau từ năm 1997 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 141 quyển số 01 ngày 15/8/2002. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Lê Thị N, thấy: Vợ chồng chị N và anh C đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Chị N trình bày rằng trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh C sống chung như vợ chồng với người phụ nữ khác rồi về chưởi bới, đánh đập chị. Từ khi sống ly thân cho đến nay vợ chồng cũng có gặp nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Mặt khác, trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị N để xây dựng hạnh phúc gia đình. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh C không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị N.

Về quan hệ con chung, thấy: Qua chứng cứ chị N cung cấp thì chị N và anh C có 02 con chung tên Đoàn Thị Tuyết N sinh ngày 02/9/1988 đã trưởng thành và Đoàn Hữu T sinh ngày 29/4/2004. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hữu T, mặt khác cháu T cũng mong muốn được tiếp tục sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Đoàn Hữu T cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Đoàn Hữu C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 141 quyển số 01 ngày 15/8/2002 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Đoàn Hữu T sinh ngày 29/4/2004.

Anh Đoàn Hữu C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị N phải tạo điều kiện cho anh C được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Lê Thị N và anh Đoàn Hữu C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000559 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

Chị Lê Thị N và a/nh Đoàn Hữu C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ