vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ng c Á, sinh ngày 26/12/2012 cho anh Nguyễn Văn Th; giao cháu Nguyễn Quốc Ph, sinh ngày 21/9/2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị H và anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07/8/2020
V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Xuân Tìm

2. Ông Ngô Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984;

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 48 phố Đ, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi ở: B, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1984;

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 48 phố Đ, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương. Hiện cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2011, được UBND thị trấn P đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên bất hòa, xúc phạm nhau, anh Th còn bị nghiện ma túy. Tuy nhiên, chị v n chung sống cùng anh Th để nuôi dạy con cái. Nhưng mâu thu n ngày càng lớn. Anh chị sống ly thân, cắt đứt quan hệ tình cảm cũng như kinh tế từ tháng 8/2019 đến nay. Cuối năm 2019, chị đã gửi đơn ly hôn đến Tòa án, sau đó chị suy nghĩ lại và rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng anh chị v n mâu thu n và sống ly thân, không thể đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau, mâu thu n vợ chồng đã tr m tr ng. Chị đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Chị và anh Th có hai con chung là Nguyễn Thị Ng c Á, sinh ngày 26/12/2012 và Nguyễn Quốc Ph, sinh ngày 21/9/2014. Từ ngày anh chị ly thân đến nay, cháu Á ở với anh Th và ông bà nội, còn cháu Ph ở với chị. Chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ph, để anh Th nuôi cháu Á. Chị không yêu c u anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu c u Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn đúng như chị H trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân là do anh bị nghiện ma túy phải đi cai nghiện ma túy. Anh xác định tìm cảm vợ chồng v n còn, anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có hai con chung như chị Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Nếu ly hôn, anh xin nuôi cả hai cháu, anh không yêu c u chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng thủ tục tố tụng; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 39 Bộ luật Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc Ph, sinh ngày 21/9/2014 cho chị H; giao cháu Nguyễn Thị Ng c Á, sinh ngày 26/12/2012 cho anh Th được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th kết hôn vào năm 2011, việc kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định, được xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến tháng 8/2019 thì phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Th không chịu làm ăn xây dựng kinh tế gia đình mà còn bị nghiện ma túy. Anh chị đã ly thân được một thời gian. Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên anh chị đoàn tụ vợ chồng nhưng chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị xin được ly hôn anh Th. Mặt khác, chị H đã từng làm đơn xin ly hôn anh Th, sau đó lại rút đơn nhưng quan hệ hôn nhân v n không được cải thiện. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Th đã lâm vào tình trạng tr m tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Toà án chấp nhận yêu c u của chị Nguyễn Thị H xin được ly hôn anh Nguyễn Văn Th là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th có hai con chung là Nguyễn Thị Ng c Á, sinh ngày 26/12/2012 và Nguyễn Quốc Ph, sinh ngày 21/9/2014. Cháu Á đã trên 7 tuổi, hiện đang sinh sống cùng bố mẹ của anh Th và có ý kiến xin được ở với anh Th. Ông Nguyễn Văn Kh là bố anh Th xác định nếu Tòa án giao cháu Á cho anh Th nuôi dưỡng, ông sẽ giúp anh Th trong việc nuôi dưỡng cháu Á. Cháu Ph hiện đang ở với chị H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về m i mặt và sự phát triển ổn định của hai cháu, Toà án giao cháu Á cho anh Th, giao cháu Ph chị H được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th không yêu c u Toà án phải giải quyết nên Toà án không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu c u ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ng c Á, sinh ngày 26/12/2012 cho anh Nguyễn Văn Th; giao cháu Nguyễn Quốc Ph, sinh ngày 21/9/2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị H và anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2018/0001403 ngày 23/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ