vanban.org

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019 (Giấy chứng sinh số 288 ngày 06/02/2019 của Bệnh viện đa khoa huyện Tiên Lãng).

Về án phí: Anh Đoàn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Ngọc N - Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019 (Giấy chứng sinh số 288 ngày 06/02/2019 của Bệnh viện đa khoa huyện Tiên Lãng).
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 18 - 6 - 2020
Tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Ngấn.

Ông Vũ Đình Bảng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2020/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2020 tranh chấp về xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/6/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc N, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng; có mặt.

Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Xuân Tr, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 2, Trại tạm giam Thủ Đức, tỉnh Bình Thuận; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc N trình bày: Chị N và anh Vũ Xuân Tr kết hôn với nhau năm 2012, quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên từ tháng 5 năm 2017 anh Tr đã vào thành phố Hồ Chí Minh ở. Tháng 9 năm 2017, anh Tr bị bắt sau đó bị kết án 17 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Hiện anh Tr đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 2, Trại tạm giam Thủ Đức, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian anh Tr bị tạm giam, chị N có quan hệ tình cảm và có con chung với anh Đoàn Văn T đặt tên là Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019. Tại bản án số 01/2020/HNGĐ-ST ngày 20/01/2020, Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng đã giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Vũ Xuân Tr. Ngày 13/3/2020, chị N và anh T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại kết quả xét nghiệm ADN số 307IG/20/DNA ngày 26/3/2020 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã kết luận: Anh Đoàn Văn T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu Đoàn Bảo Anh. Để đảm bảo quyền lợi của cháu Đoàn Bảo Anh, chị N yêu cầu Toà án xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh.

Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đoàn Văn T trình bày: Anh T và chị Lê Thị Ngọc N có quan hệ tình cảm từ năm 2018, hai người có với nhau 01 con chung đặt tên là Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019. Trong thời gian có quan hệ tình cảm với chị N, anh T biết chị N đã có gia đình với anh Vũ Xuân Tr. Đầu năm 2020, chị N đã được Toà án giải quyết cho ly hôn anh Tr. Ngày 13/3/2020, anh T và chị N đã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại kết quả xét nghiệm ADN số 307IG/20/DNA ngày 26/3/2020 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã kết luận anh T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu Đoàn Bảo Anh. Nay chị N có yêu cầu Toà án xác định anh là cha cháu Đoàn Bảo Anh, anh T đề nghị Toà án chấp nhận.

Tại bản tự khai ngày 28/6/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Xuân Tr trình bày: Anh Tr và chị Lê Thị Ngọc N xây dựng gia đình với nhau năm 2012. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nên sau đó anh Tr vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Tháng 9 năm 2017, anh Tr bị bắt giam và bị Tòa án xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy, hiện anh Tr đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 2, Trại tạm giam Thủ Đức, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian bị tạm giam, chị N đã có yêu cầu ly hôn với anh Tr và đã được Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng giải quyết tại bản án số 01 ngày 20/01/2020. Trong thời gian anh Tr bị tạm giam và khi Toà án chưa giải quyết ly hôn, chị N và anh Đoàn Văn T có quan hệ tình cảm và có với nhau 01 con chung đặt tên là Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019. Anh Tr khẳng định cháu Đoàn Bảo Anh không phải là con chung của anh Tr và chị N. Hiện tại anh Tr và chị N đã ly hôn, mặt khác chị N và anh Đoàn Văn T cũng đã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Nếu kết quả xét nghiệm AND đã xác định anh Đoàn Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Đoàn Bảo Anh và chị N có yêu cầu xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh, anh Tr đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và các ý kiến đã trình bày tại Toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về xác định cha cho con: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào kết quả xét nghiệm AND đã kết luận anh Đoàn Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Đoàn Bảo Anh. Nay chị N có yêu cầu Toà án xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh. Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 88, 91 và Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Đoàn Văn T là cha đẻ của cháu Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019.

Về án phí: Đề nghị buộc anh Đoàn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh. Anh T có nơi ĐKNKTT: Thôn Minh Thị, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Xuân Tr có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về xác định cha cho con: Các đương sự trình bày chị N và anh T có quan hệ tình cảm và có 01 con chung đặt tên là Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019 trong thời gian chị N đang có quan hệ hôn nhân với anh Vũ Xuân Tr. Xét việc chị N và anh T có con chung với nhau là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Theo Luật hôn nhân và gia đình thì cháu Đoàn Bảo Anh là con chung của chị N và anh Tr. Tuy nhiên chị N và anh T có quan hệ tình cảm và có con chung với nhau khi anh Tr đang bị tạm giam. Mặt khác, anh Tr cũng xác nhận cháu Đoàn Bảo Anh không phải là con của anh Tr và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện tại chị N và anh Tr đã ly hôn, chị N cũng đã làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh T theo quy định của pháp luật. Tại kết quả xét nghiệm ADN số 307IG/20/DNA ngày 26/3/2020 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã kết luận: Anh T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu Đoàn Bảo Anh. Nay cả chị N và anh T đều yêu cầu Toà án xác định anh T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh. Do vậy có đủ cơ sở xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh. Căn cứ vào Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 88, 91, 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn anh Đoàn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 88, 91, 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Xác định anh Đoàn Văn T là cha của cháu Đoàn Bảo Anh, sinh ngày 02/6/2019 (Giấy chứng sinh số 288 ngày 06/02/2019 của Bệnh viện đa khoa huyện Tiên Lãng).

- Về án phí: Anh Đoàn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Lê Thị Ngọc N và anh Đoàn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Vũ Xuân Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ