vanban.org

Bản án 16/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!HUYỆN!T!
Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
!!!TỈNH!ĐĂK!NÔNG!
!
Bản án số: 16/2020/DS-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2020
“V/v"Tranh"chấp"hợp"đồng"

"""""""""vay"tài"sản”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!T,!TỈNH!ĐĂK!NÔNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Tiến Thọ.

Các"hội"thẩm"nhân"dân: Ông Nguyễn Đình Thi và ông Lưu Ngọc Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2020/TLST-DS ngày 08/6/2020 về“Tranh"chấp"hợp"đồng"vay"tài"sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/20120/QĐXXST-DS ngày 17/8/2020 giữa các đương sự:

Nguyên" đơn: Ông Đỗ Xuân O, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn M, xã Qu, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.

Đồng"bị"đơn: Ông Lê Quang Q, sinh năm 1957; bà Phạm Thị L, sinh năm 1962; Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Qu, huyện T, Đắk Nông. Vắng mặt.

Người"có"quyền"lợi"liên"quan:"Bà Lưu Thị Th, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn M, xã Qu, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt. Bà Lưu Thị Th ủy quyền cho ông Đỗ Xuân O tham gia tố tụng tại Tòa án (Văn bản ủy quyền ngày 10/9/2020).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*"Theo"đơn"khởi"kiện"của"và"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án,"cũng"như"tại" phiên"toà"nguyên"đơn"ông"Đỗ"Xuân"O"trình"bày:""

Do mối quan hệ quen biết nên vào ngày 13/5/2018 ông Đỗ Xuân O cho vợ chồng ông Lê Quang Q, bà Phạm Thị L vay số tiền 142.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng) khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất và hẹn đến ngày 13/5/2019 sẽ trả số tiền này. Việc vay mượn hai bên có làm giấy tờ viết tay giữa ông O và vợ chồng ông Q, bà L ký xác nhận. Đến hẹn trả nợ ông O đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông Q, bà L trả nợ đã vay như thỏa thuận tuy nhiên ông Q, bà L khất nợ nhiều lần sau đó không trả, vì vậy ông O đã khởi kiện ra Tòa án giải quyết yêu cầu ông Q, bà L trả số tiền 142.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng) và yêu cầu tính lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật đến thởi điểm xét xử. Số tiền cho vay là tài sản chung của ông O và vợ là bà Lưu Thị Th, ông O đưa ra chứng cứ là giấy vay tiền vợ chồng ông Q, bà L ký xác nhận.

* Trong" quá" trình" giải" quyết" vụ" án" và" tại" phiên" tòa" đồng" bị" đơn" ông" Lê" Quang"Q"và"bà"Phạm"Thị"L"đã"được"Tòa"án"tống"đạt,"niêm"yết"hợp"lệ"giấy"triệu" tập,"các"văn"bản"tố"tụng"nhưng"ông"Q,"bà"L không"hợp"tác"làm"việc"giải"quyết"vụ" án."Tại"phiên"tòa"ông"Q,"bà"L"vắng"mặt"không"có"lý"do."

*"Người"có"quyền"lợi"liên"quan"–"bà"Lưu"Thị"Th"trình"bày:"

Tôi (Th) có nghe chồng tôi là ông Đỗ Xuân O nói có cho vợ chồng ông Q, bà L vay số tiền 142.000.000 đồng để xây nhà và đầu tư sản xuất, thời hạn thanh toán vào ngày 13/5/2019. Tuy nhiên, khi đến hạn thanh toán vợ chồng tôi đã đến nhà gặp trực tiếp nhiều lần để yêu cầu ông Q, bà L trả nợ nhưng vợ chồng ông Q, bà L khất lần, khất lượt, không thanh toán số tiền trên cho vợ chồng tôi mặc dù đã hối thúc nhiều lần. Vì vậy, ông O làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Q, bà L phải trả số tiền 142.000.000 đồng tiền gốc và tính lãi suất theo quy định của pháp luật. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chồng tôi, không bổ sung gì thêm."

*"Phần"tranh"luận: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày lý do cho ông Q, bà L vay tiền là do mối quan hệ quen biết và vợ chồng ông Q, bà L đang gặp khó khăn. Do ông Q, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q, bà L phải trả cho vợ chồng ông số tiền gốc là 142.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền này theo quy định của pháp luật.

!

*"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"T"phát"biểu"quan"điểm"về"trình"tự" thủ"tục"tố"tụng"và"hướng"xử"lý"vụ"án:

Quan"điểm"của"đại"diện"Viện"kiểm"sát"về"trình"tự"thủ"tục"tố"tụng: Thẩm phán thiết lập hồ sơ đúng trình tự theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đúng thành phần; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về"nội"dung,"đại"diện"Viện"kiểm"sát"đề"nghị"HĐXX:"Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 275; Điều 351; Điều 385; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Xuân O, buộc vợ chồng ông Lê Quang Q và bà Phạm Thị L phải trả cho vợ chồng ông Đỗ Xuân O và bà Lưu Thị Th số tiền 142.000.000 đồng và tính lãi suất đối với số tiền này theo quy định pháp luật.

- Buộc ông Lê Quang Q và bà Phạm Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về!thẩm!quyền!giải!quyết!và!thủ!tục!tố!tụng:

Đồng bị đơn ông Lê Quang Q và bà Phạm Thị L có địa chỉ tại Thôn M, xã Qu, huyện T, Đắk Nông. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đăk Nông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt các thủ tụng tố tụng cho đồng bị đơn theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng đồng bị đơn không có mặt tại địa phương. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã Qu, huyện T, tỉnh Đăk Nông, kết quả xác minh ông Q, bà L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn M, xã Qu, huyện T, Đắk Nông, tuy nhiên từ ngày 04/7/2019 ông Q, bà L đã cắt khẩu và chuyển đến xã E, huyện Kr, tỉnh Đăk Lăk sinh sống. Tòa án tiếp tục xác minh tại Công an xã E, huyện Kr, tỉnh Đăk Lăk, kết quả xác minh: Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ đến ngày 10/8/2020 Công an xã E chưa tiếp nhận hồ sơ đăng ký nhập khẩu của ông Lê Quang Q và bà Phạm Thị L có địa chỉ tại Thôn M, xã Qu, huyện T, Đắk Nông chuyển về. Đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nơi cư trú của cá nhân thì “Trường"hợp"một"bên"trong"quan"hệ"dân"sự"thay"đổi"nơi"cư"trú"gắn" với"việc"thực"hiện"quyền,"nghĩa"vụ"thì"phải"thông"báo"cho"bên"kia"biết"về"nơi"cư"trú" mới”"và tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trường"hợp"trong"đơn"khởi"kiện,"người"khởi"kiện"đã"ghi"đầy"đủ"và"đúng"địa" chỉ"nơi"cư"trú"của"người"bị"kiện,"người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"nhưng"họ" không"có"nơi"cư"trú"ổn"định,"thường"xuyên"thay"đổi"nơi"cư"trú,"trụ"sở"mà"không" thông"báo"địa"chỉ"mới"cho"cơ"quan,"người"có"thẩm"quyền"theo"quy"định"của"pháp" luật" về"nơi" cư"trú" làm"cho"người" khởi" kiện" không"biết"được"nhằm" mục"đích"che" giấu"địa"chỉ,"trốn"tránh"nghĩa"vụ"đối"với"người"khởi"kiện"thì"Thẩm"phán"không"trả" lại"đơn"khởi"kiện"mà"xác"định"người"bị"kiện,"người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan" cố"tình"giấu"địa"chỉ"và"tiến"hành"thụ"lý,"giải"quyết"theo"thủ"tục"chung”"như vậy việc ông Q, bà L làm thủ tục cắt khẩu tại Thôn M, xã Qu, huyện T, Đắk Nông và chuyển đến xã E, huyện Kr, tỉnh Đăk Lăk nhưng không nhập khẩu tại xã E, huyện Kr, tỉnh Đăk Lăk đã vi phạm khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án xác định ông Q, bà L cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt bị đơn và biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về!quan!hệ!pháp!luật!và!nội!dung!tranh!chấp:!!

Đối tượng tranh chấp là số tiền vay 142.000.0000 đồng. Nguyên đơn trình bày đây là tài sản hợp pháp của nguyên đơn, thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn và người có quyền lợi liên quan, nguyên đơn đã cho đồng bị đơn vay theo hợp đồng vay tài sản giữa hai bên, do đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án và Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định pháp luật vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

![3]!Nhận!định!của!Hội!đồng!xét!xử:

[3.1] Về hợp đồng vay tài sản giữa ông Đỗ Xuân O và vợ chồng ông Lê Quang Q, bà Phạm Thị L là giao dịch dân sự hợp pháp. Theo hợp đồng trong thời gian vay tiền từ ngày 13/5/2018 đến ngày 13/5/2019 bên vay phải trả tiền gốc và lãi suất (lãi suất hai bên thỏa thuận miệng, không ghi vào giấy vay tiền). Ông O đã đưa tiền vay cho ông Q, bà L nhưng đến hạn ông O đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông Q, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vì vậy ông Q, bà L đã vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay khi đến hạn.

[3.2] Tại giấy vay tiền đề ngày 13/5/2018, hai bên không thỏa thuận về lãi suất, tuy nhiên trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông O yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Q, bà L phải trả lãi đối với số tiền vay theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì “Trường"hợp"vay"không"có"lãi"mà"khi"đến" hạn"bên"vay"không"trả"nợ"hoặc"trả"không"đầy"đủ"thì"bên"cho"vay"có"quyền"yêu"cầu" trả"tiền"lãi"với"mức"lãi"suất"theo"quy"định"tại"khoản"2"Điều"468"của"Bộ"luật"này" trên"số"tiền"chậm"trả"tương" ứng"với"thời"gian" chậm"trả,"trừ"trường"hợp"có"thỏa" thuận"khác"hoặc"luật"có"quy"định"khác”"và theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự thì “Trường"hợp"các"bên"có"thỏa"thuận"về"việc"trả"lãi,"nhưng"không" xác"định"rõ"lãi"suất"và"có"tranh"chấp"về"lãi"suất"thì"lãi"suất"được"xác"định"bằng" 50%"mức"lãi"suất"giới"hạn"quy"định"tại"khoản"1"Điều"này"tại"thời"điểm"trả"nợ” và lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, như vậy lãi suất trong trường hợp này được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn là 20%/năm, nghĩa là = 10%/năm.

[3.3] Căn cứ vào diễn biến sự việc, chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy có căn cứ chứng minh vào ngày 15/5/2018 ông Đỗ Xuân O đã cho vợ chồng ông Lê Quang Q, bà Phạm Thị L vay số tiền 142.000.000 đồng. Thời gian vay kể từ ngày 13/5/2018 đến ngày 13/5/2019. Khi đến hạn trả nợ ông Q, bà L không trả vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cần buộc vợ chồng ông Q, bà L phải cho nguyên đơn ông Đỗ Xuân O và người có quyền lợi liên quan bà Lưu Thị Th số tiền 142.000.000 đồng và lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 kể từ ngày 14/5/2019 đến ngày 28/9/2020 (ngày Tòa án xét xử).

[3.4] Trong quá trình giải quyết vụ án do đồng bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không thông báo cho chính quyền địa phương và nguyên đơn biết địa chỉ mới của mình thể hiện việc đồng bị đơn từ bỏ quyền lợi của mình nên Tòa án căn cứ khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết. Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương"sự"có"nghĩa"vụ"đưa"ra"chứng" cứ"để"chứng"minh"mà"không"đưa"ra"được"chứng"cứ"hoặc"không"đưa"ra"đủ"chứng"cứ" thì"Toà"án"giải"quyết"vụ"án"dân"sự"theo"những"chứng"cứ"đã"thu"thập"được"có"trong" hồ"sơ"vụ"việc”.

[3.5] Số tiền ông O cho vợ chồng ông Q, bà L vay là tài sản chung của vợ chồng ông O và bà Th. Quá trình Tòa án giải quyết bà Th yêu cầu vợ chồng ông Q, bà L phải trả số tiền này cho vợ chồng bà, yêu cầu này của bà Th là phù hợp nên cần chấp nhận.

![4] Từ những phân tích nêu trên HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Xuân O, buộc vợ chồng ông Lê Quang Q bà Phạm Thị L phải trả cho vợ chồng ông Đỗ Xuân O và bà Lưu Thị Th số tiền gốc và tiền lãi suất cụ thể như sau:

- Tiền gốc: 142.000.000 đồng;

- Tiền lãi chậm trả (từ ngày 14/5/2019 đến ngày 28/9/2020) là: 142.000.000 đồng x 01 năm 04 tháng 15 ngày x 10%/năm = 19.525.000 đồng (làm tròn).

- Tổng cộng: 142.000.000 đồng (tiền gốc) + 19.525.000 đồng (tiền lãi) = 161.525.000 đồng.

Như vậy, cần buộc vợ chồng ông Lê Quang Q bà Phạm Thị L phải trả cho vợ chồng ông Đỗ Xuân O và bà Lưu Thị Th số tiền 161.525.000 đồng (trong đó gồm 142.000.000 đồng tiền gốc và 19.525.000 đồng tiền lãi).

![5] Về án phí: Đồng bị đơn ông Lê Quang Q bà Phạm Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 275; Điều 351; Điều 385; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

1.!Tuyên!xử:!Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Xuân O.

Buộc vợ chồng ông Lê Quang Q bà Phạm Thị L phải trả cho vợ chồng ông Đỗ Xuân O và bà Lưu Thị Th số tiền 161.525.000 đồng (trong đó gồm 142.000.000 đồng tiền gốc và 19.525.000 đồng tiền lãi).

Áp dụng khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định của pháp luật.

2.!Về!án!phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc ông Lê Quang Q và bà Phạm Thị L chịu 8.076.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3.!Về!quyền!kháng!cáo:!

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đồng bị đơn, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương và nơi cư trú.

Trường"hợp"bản"án"được"thi"hành"theo"quy"định"tại"Điều"2"Luật"thi"hành"án" dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân"sự"có"quyền" thỏa"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành"án"hoặc"bị" cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,"7,"7a,"7b"và"9"Luật"thi"hành"án" dân"sự;"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30"Luật"thi" hành"án"dân"sự."

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ