- Tranh chấp gì? án dân sự — "nguyệt-thúy"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh N, buộc ông Trương Hữu Q và bà Trần Thị Thanh T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ánh N số tiền 68.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2020/DS-ST Ngày: 13 - 7 - 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Anh.
2. Bà Nguyễn Thị Vẹn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2019/TLDS-ST, ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXDS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà 45, đường N, khu phố 2, phường 3, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Trương Hữu Q, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Số nhà 158, ấp C, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số nhà 47, đường N, khu phố 2, phường 3, thị xã K, tỉnh Long An.
Bà N có mặt; ông Q và bà T vắng mặt không có lý do; ông D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh N, các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Ánh N trình bày: Ông Trương Hữu Q và bà Trần Thị Thanh T là vợ chồng. Vào năm 2015, 2016 bà N đứng ra làm chủ thảo các dây hụi để giúp chị em có vốn góp xoay vòng, trong đó ông Q và bà T có tham gia chơi 02 dây hụi tháng đối với loại hụi 2.000.000 đồng/phần/tháng, mỗi tháng khui một lần. Ông Q và bà T đã hốt 02 dây hụi trên được số tiền tổng cộng 64.310.000 đồng. Sau đó, ông Q và bà T đã đóng lại hụi chết được tổng cộng 26.000.000 đồng thì ngưng luôn cho đến nay. Mục đích ông Q và bà T tham gia chơi hụi nhằm tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình Q và bà T. Khi tham gia chơi hụi, Q và bà T không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà N. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông Q và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền hụi chết của 02 dây hụi với số tiền tổng cộng 68.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Lời khai của người làm chứng – Ông Nguyễn Quốc D khai: Bà T cùng vợ chồng ông có tham gia chơi 02 dây hụi do bà N đứng ra làm chủ thảo. Ông D xác định bà T đã hốt 02 dây hụi, nhưng chưa đóng hụi chết cho bà N 02 dây hụi với số tiền tổng cộng 68.000.000 đồng. Trong khi bà N đã xuất tiền nhà để giao hụi cho các thành viên còn lại và 02 dây hụi này đã hoàn thành.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt hợp lệ đối với ông Q và bà T nhưng ông Q và bà T không đến tham D các phiên hòa giải theo quy định pháp luật. Đồng thời, ông Q và bà T cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về việc bà N khởi kiện yêu cầu ông Q và bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà N. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng góp hụi, bị đơn là ông Q và bà T có địa chỉ tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của ông Q và bà T tại phiên tòa: Ông Q và bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông Q và bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Q và bà T là phù hợp theo các Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của bà N khởi kiện yêu cầu ông Q và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền hụi chết tổng cộng 68.000.000 đồng là có chứng cứ chứng minh thể hiện bằng các hợp đồng chơi hụi do bà N lập, giấy nhận hụi do bà T nhận, ký tên. Đồng thời, được ông Nguyễn Quốc D là người tham gia chơi hụi chung với bà T xác nhận bà T đã hốt 02 dây hụi do bà N làm chủ thảo, nhưng chưa đóng hụi chết cho bà N 02 dây hụi với số tiền tổng cộng 68.000.000 đồng. Trong khi bà N đã xuất tiền nhà để giao hụi cho các thành viên còn lại và 02 dây hụi này đã hoàn thành. Mặt khác, mục đích bà T tham gia chơi hụi nhằm tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình ông Q và bà T. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là buộc ông Q và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền hụi tổng cộng 68.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với các Điều 288, 357, 468, 471 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Q và bà T phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 68.000.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước; bà N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 468, 471 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh N, buộc ông Trương Hữu Q và bà Trần Thị Thanh T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ánh N số tiền 68.000.000 đồng (sáu mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1 Án phí của vụ án là 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Buộc ông Trương Hữu Q và bà Trần Thị Thanh T phải có nghĩa vụ liên đới chịu 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
2.2 Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh N 2.498.000 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007379 ngày 24 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt đương sự, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - TAND tỉnh Long An; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Diệu |