vanban.org

Bản án 16/2020/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Dân sự"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/DS-ST
Ngày: 30/6/2020
V/v tranh chấp hợp đồng Mua bán và Đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân

2. Ông Mai Trần Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà ĐàmNguyên Phượng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh. - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng Mua bán và Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc B, sinh năm 1969; Địa chỉ: tổ 10, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt

Bị đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1985, anh Võ Văn H, sinh năm1983; Địa chỉ: tổ 3, ấp N, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Văn G, sinh năn 1963; Địa chỉ: tổ 10, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 3 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị Ngọc B là nguyên đơn trình bày:

Năm 2011 đến năm 2017 chị T, anh H có mua diêm thiếu của bà B, ông G nhiều lần, do không có tiền trả, nên chị T, anh H nhờ bà B đứng ra chơi hụi giùm để trả nợ tiền diêm, sau đó hai bên tính sổ thì chị T, anh H còn nợ bà B, ông G tổng cộng số tiền 205.000.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu đồng), trong đó nợ tiền diêm là 66.700.000 đồng; nợ tiền hụi bà B đóng thay cho chị T anh H là 119.300.000đồng; tiền mượn để đóng hụi 19.000.000 đồng, hụi mãn từ đầu năm 2017. Ngày 18/6/2017 chị T, anh H có làm giấy hẹn trả nợ cho vợ chồng bà B và hứa ngày 18/7/2017 trả cho vợ chồng bà B số tiền 2.000.000 đồng và trả dần cho đến khi hết nợ, đến ngày 23/12/2018, chị T, anh H trả cho vợ chồng bà B được số tiền 500.000 đồng, ngày 03/5/2019 trả được số tiền 1.000.000 đồng, ngày 02/6/2019 trả được số tiền 500.000 đồng, tổng cộng chị T, anh H trả cho vợ chồng bà B được số tiền 2.000.000 đồng, hiện tại chị T, anh H còn nợ vợ chồng bà B số tiền 203.000.000 đồng ( Hai trăm lẻ ba triệu đồng). Trong đơn khởi kiện bà B yêu cầu chị T, anh H trả số tiền 205.000.000 đồng, Tại phiên tòa hôm nay bà B xin rút một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 11.295.000 đồng, bà B yêu cầu chị T, anh H trả cho vợ chồng bà B số tiền gốc 193.705.000 đồng ( Một trăm chín mươi ba triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng), không tính lãi suất.

Ông Lâm Văn G trình bày tại biên bản ngày 20 tháng 5 năm 2020: Ông là chồng của bà B, ông thống nhất với lời trình bày của bà B.

Bị đơn chị Trần Thị Thu T và anh Võ Văn H trình bày:

Anh H, chị T thừa nhận có nợ tiền diêm của bà B, ông G số tiền 55.405.000 đồng và có nhờ bà B đứng ra chơi giùm 04 dây hụi, ngoài ra có mượn bà B, ông G số tiền 19.000.000 đồng để đóng hụi như bà B trình bày, anh chị xác định giấy nợ 205.000.000 đồng, bà B cung cấp là chữ ký của anh chị.Tại phiên tòa hôm nay anh chị đồng ý trả cho bà B, ông G số tiền diêm 55.405.000 đồng, còn tiền anh chị mượn để đóng hụi và tiền hụi bà B trả thay cho anh chị, anh chị không đồng ý trả, anh chị đồng ý trả số tiền hụi anh chị đã hốt, không đồng ý trả tiền hụi chết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

+Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa bà Phan Thị Ngọc B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Ông Lâm Văn G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông G.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bà Phan Thị Ngọc B rút một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 11.295.000 đồng, bà B yêu cầu chị Trần Thị Thu T và anh Võ Văn H trả số tiền gốc 193.705.000 đồng ( Một trăm chín mươi ba triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng), trong đó tiền diêm là 55.405.000 đồng; tiền hụi bà B đóng thay cho chị T anh H là 119.300.000 đồng; tiền mượn để đóng hụi là 19.000.000 đồng, không tính lãi suất. Xét thấy anh H chị T thừa nhận có nợ tiền diêm, tiền mượn đóng hụi,tiền hụi như bà B trình bày, vì vậy hợp đồng Mua bán và Đòi tài sản giữa bà B và anh H, chị T là có thật.

Anh H chị T đồng ý trả cho bà B, ông G tiền diêm, đối với tiền mượn đóng hụi và tiền hụi bà B trả thay cho anh chị, anh chị không đồng ý trả, anh chị đồng ý trả số tiền anh chị đã hốt, không đồng ý trả tiền hụi chết, thì thấy rằng chị T anh H nhờ bà B chơi hụi giùm, anh chị đã hốt hụi nhưng không đóng tiền hụi chết cho chủ hụi, bà B đã dùng tiền của mình để đóng hụi thay cho anh chị nên anh chị phải trả lại tiền cho bà B là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc B, buộc anh Võ Văn H và chị Trần Thị Thu T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà B, ông G số tiền gốc 193.705.000 đồng ( Một trăm chín mươi ba triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc B số tiền 11.295.000 đồng (Mười một triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng), do bà B rút yêu cầu khởi kiện.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B nên anh Võ Văn H và chị Trần Thị Thu T phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào Điều 430, khoản 1 Điều 440, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc B đối chị Trần Thị Thu T và anh Võ Văn H.

Buộc chị Trần Thị Thu T và anh Võ Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phan Thị Ngọc B và ông Lâm Văn G số tiền 193.705.000 đồng ( Một trăm chín mươi ba triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng).Ghi nhận bà B ông G không yêu cầu tính lãi suất.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc B số tiền 11.295.000 đồng (Mười một triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng)

2. Án phí: Anh Võ Văn H và chị Trần Thị Thu T phải chịu 9.685.250 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi đồng ) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phan Thị Ngọc B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho bà B số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.125.000đồng ( Năm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng ) theo biên lai thu số 006828 ngày 06 tháng 3 năm 2020 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ