- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoang Anh K phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HSST Ngày 04/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Minh Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thoan và ông Lê Xuân Hưng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/TLST - HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST
- HS ngày 20 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng Anh K (tên gọi khác: Lép), sinh ngày 19/10/1994 tại Quảng Trị; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố S, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1970; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02; chưa có vợ con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 13/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Nhân thân:
- Ngày 24/8/2015, bị Công an Phường 3, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 05/10/2017, bị Ủy ban nhân dân phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
Bị hại: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1981; trú tại: Khu phố T, phường ĐL, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Dương Đình T, sinh năm 1981; trú tại: Khu phố S, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967; trú tại: Khu phố S, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/11/2018, sau khi gặp gỡ nói chuyện với anh Dương Đình T thì bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K biết được anh T có nhu cầu mua xe kéo để sử dụng nên K nãy sinh ý định đi tìm xe kéo để lấy trộm bán cho anh T. Khoảng 11 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ - đen, BKS 74C1-025.23 của ông Nguyễn Văn L (bố của K) đi đến khu phố Trung Chỉ, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà phát hiện thấy trong sân nhà anh Trần Thanh L có 01 chiếc xe kéo làm bằng sắt của anh Trần Thanh L (em trai anh L) đang gửi nhờ, nhà không có cổng và không có ai ở nhà. Thấy vậy, K dựng xe trước cổng, đi bộ vào trong sân lấy hai chiếc thang đang để trên xe kéo xuống, kéo xe ra vị trí xe mô tô, gác thanh ngang tay cầm của xe kéo lên yên xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô kéo xe kéo đến đường Hàm Nghi, thành phố Đông Hà (đối diện Trường tiểu học Hàm Nghi thành phố Đông Hà) bán cho anh T với giá 500.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KLĐGTS ngày 03/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà kết luận; chiếc xe kéo bằng sắt, dài khoảng 03 mét, rộng 0,8 mét của anh Trần Thanh L có giá trị 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số: 15/CT-VKS-HS ngày 10 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K từ 7 đến 10 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Công an thành phố Đông Hà đã trả lại tài sản xe mô tô và xe kéo cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Bị cáo K trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hạnh về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về hòa nhập với gia đình và xã hôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố và xét xử, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tranh tụng công khai tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đủ căn cứ kết luận: Sau khi biết được anh Dương Đình T có nhu cầu mua xe kéo để sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 05/11/2018, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K điều kiểm xe mô tô BKS 74C1- 025.23 đi tìm xe kéo để lấy cắp. Khi đến khu phố Trung Chỉ, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, bị cáo phát hiện thấy trong sân nhà anh Trần Thanh L có chiếc xe kéo làm bằng sát, dài khoảng 3 mét, rộng 0,8 mét nhưng không có người trông coi. Lúc này, bị cáo K đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã có hành vi lén lút vào sân lấy trộm chiếc xe kéo rồi đưa đi bán lấy tiền tiêu xài. Tài sản mà bị cáo lấy trộm có giá trị 2.500.000 đồng; do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Ngoài ra, bị cáo K hiện là đối tượng đã có tiền án, chưa được xóa án tích, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng thêm tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Tại phiên tòa tuy Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, thiệt hại về tài sản của bị hại ông Trần Thanh L trong vụ án này do bị cáo gây ra là chiếc xe kéo. Tuy nhiên, quá trình điều tra Công an thành phố Đông Hà đã thu giữ tài sản mà bị cáo đã trộm cắp là chiếc xe kéo và trả lại cho bị hại, chứ không phải bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại chiếc xe kéo cho bị hại; do đó, không có căn cứ để cho rằng bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình đã gây ra nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.
Hành vi phạm tội trên của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Hơn nữa, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên cần xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Công an thành phố Đông Hà đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn L chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ-đen, BKS 74HC1- 025.23 và ông Trần Thanh L chiếc xe kéo làm bằng sắt dài khoảng 3m, rộng 0,8m là đúng pháp luật. Nay ông L, ông L không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên,
QU T ĐỊNH:
1. Tuyên b bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K (tên gọi khác: Lép) phạm tội ”Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Q.Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Thi hành án Hình sự; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Minh Khôi |