vanban.org

Bản án 16/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Võ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2018. Buộc bị cáo C nộp ngân sách số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vo van t - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Võ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ H
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HSST
Ngày 19-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phú Nhuận.

Ông Vũ Ngọc Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ Văn C (tên gọi khác Võ Văn T); sinh năm: 1991 tại Thành phố H; Nơi thường trú: 571/34Q C, Phường T, Quận G, Thành phố H; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ văn Đ và bà: Nguyễn Thị H; tiền sự: không; tiền án: 02 (ngày 08/11/2013 bị Công an Quận 3 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản” Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 08 tháng tù (theo bản án số 79/2014/HS-ST ngày 06/6/2014; ngày 14/11/2014 bị công an quận Tân Bình bắt về hành vi “Cướp giật tài sản”, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm tù theo bản án số 195A/2015/HSST ngày 28/7/2015), bị bắt giữ ngày: 27/9/2018, tạm giữ ngày: 13/8/2019, bị tạm giam ngày: 24/01/2019.

(bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Bà Lý Cẩm V, sinh năm: 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: 102/26 T, Phường K, Quận Z, Thành phố H.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 26/9/2018, Võ Văn C điều khiển xe môtô hiệu Attila biển số 53R9-6640 chạy vào hẻm 102 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành phố H. Tại đây, C nhìn thấy chị Lý Cẩm V dừng xe trước nhà số 102/26 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10 phía sau yên xe có một túi xách màu nâu. C áp sát và dùng tay trái giật túi xách bỏ chạy về hướng Phường 13, Quận 10. Trong túi xách có 01 điện thoại đi động, số tiền 800.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Sau khi bị giật mất túi xách chị V kiểm tra tín hiệu định vị điện thoại và phát hiện C đang ở nhà số 163/21/7 Tô Hiến Thành, Phường 13, Quận 10, Thành phố H nên nhờ công an phường tại đây bắt giữ C. Vụ việc được công an Phường 15, Quận 10 lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Võ Văn C khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Tài sản bị chiếm đoạt là: 01 túi xách da màu nâu, 01 điện thoại di động hiệu Iphone SE màu hồng, một số giấy tờ tùy thân mang tên Lý Cẩm V đã được thu hồi. Đối với số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng thì C đưa cho đối tượng Trang (không rõ lai lịch) 200.000 (hai trăm ngàn) đồng; đưa cho đối tượng Lộc (không rõ lai lịch) 350.000 (ba trăm năm mươi ngàn) đồng, còn lại 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng C tiêu xài hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Võ Văn C về hành vi “Cướp giật tài sản”.

Quá trình điều tra, Võ Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành phố H đã truy tố: Võ Văn C, về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo Võ Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn C đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Võ Văn C (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn), đã đề nghị áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn C, xử phạt bị cáo C tù từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: tài sản đã được trả cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên không giải quyết. Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun màu tím, 01 quần Jean màu đen.

Đối với số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng do bị hại không yêu cầu trả nên không giải quyết nhưng đây là tài sản do phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe môtô biển số 53R9-6640 (Loại xe: hai bánh, nhãn hiệu Attila, số khung: RLGH125ED-4D449466, số máy: VMEM9B-449466); qua xác minh người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Lý A C . Năm 2014 ông C bán xen lại cho người không rõ lai lịch và C khai mượn chiếc xe này từ L cũng không rõ lai lịch nên chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10 xử lý.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án là bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội đối với bị cáo Võ Văn C phạm tội Cướp giật tài sản, theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản nhận dạng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe môtô có phân khối lớn, lợi dụng sự sơ hở của người khác mà nhanh chóng công khai chiếm đoạt tài sản của bị hại ngay trên đường phố nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Võ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

. Về tính chất của vụ án: bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe môtô để thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại lớn, tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu kịp thời.

. Về mức độ thực hiện hành vi phạm tội: bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã có ý định và sự chuẩn bị trước, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu quản lý tài sản, bị cáo đã chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình đã thực hiện.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại làm giảm bớt tác hại của tội phạm; nên áp dụng điểm h,s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo C.

. Về nhân thân bị cáo: Bản thân bị cáo có nhân thân xấu. Cụ thể, ngày 08/11/2013 bị Công an Quận 3 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản” Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 08 tháng tù (theo bản án số 79/2014/HS-ST ngày 06/6/2014). Ngày 14/11/2014 bị công an quận Tân Bình bắt về hành vi “Cướp giật tài sản” và Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm tù ( theo bản án số 195A/2015/HSST ngày 28/7/2015) chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên áp dụng điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo C.

. Bị cáo có hành vi ngang nhiên xâm hại đến quyền sở hữu của người khác. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương

. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo C 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng bị cáo C lấy của bị hại nhưng do bị hại không yêu bị cáo C hoàn trả lại số tiền trên nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự buộc bị cáo C nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền trên.

Về vật chứng của vụ án:

- Ngày 26/9/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 10 lập biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu cho bà Lý Cẩm V 01 túi xách màu nâu bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone SE màu hồng và một số giấy tờ tùy thân mang tên Lý Cẩm V là có căn cứ, phù hợp với khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 áo thun màu tím, 01 quần Jean màu đen. Xét thấy các vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 xe môtô biển số 53R9-6640 (Loại xe: hai bánh, nhãn hiệu Attila, số khung: RLGH125ED-4D449466, số máy: VMEM9B-449466); qua xác minh người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Lý A C . Năm 2014 ông C bán xe lại cho người không rõ lai lịch và C khai mượn chiếc xe này từ L cũng không rõ lai lịch, sau đó dùng vào việc thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”; nên hiện chưa xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, trong khi chiếc xe trên lại là phương tiện dùng vào việc phạm tội (đã được đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp từ ngày 10/01/2019); do vậy giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố H tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

. Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Võ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn C;

Xử phạt bị cáo Võ Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2018.

Buộc bị cáo C nộp ngân sách số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng.

Phạt bị cáo C 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe môtô biển số 53R9-6640 (Loại xe: hai bánh, nhãn hiệu Attila, số khung: RLGH125ED-4D449466, số máy: VMEM9B-449466) giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố H tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo C chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo thì tính từ ngày tuyên án, đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ