vanban.org

Bản án 16/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình L phạm tội ‘’Trộm cắp tài sản’’.

Xử phạt : Lê Đình L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/12/2018. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6 ; điểm a khoản 1 Điều 23, Khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thườn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản số 16/2019 ngày 11/4/2019 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình L phạm tội ‘’Trộm cắp tài sản’’.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn qU¶ng XƯ¬ng
TØnh Thanh Hãa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HSST
Ngày: 11/4/2019
Nh©n danh
nƯíc céng hßa x· héi chỦ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Qu¶ng xƯ¬ng, tØnh Thanh ho¸
- Thành phầnHội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lợi
2. Bà Hoàng Thị Thúy
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến – Kiểm sát viên.
Xương, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý
số:08/2019/TL-HSST ngày 08 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
1. Lê Đình L, sinh năm 1987
tịch : Việt nam; con ông Lê Đình L (đã chết) và bà Tô Thị X, sinh năm 1956; vợ Trần
Thị T, sinh năm 1987 (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2011.Nhân thân: Là đối tượng
Thanh Hóa, năm 2015 chấp hành xong về địa phương.Tiền án ,tiền sự: không. Bị cáo
bị tạm giữ từ ngày 28/12/2018, chuyển tạm giam ngày 03/01/2019. Hiện đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại: Ông Trần Trọng K, sinh năm 1954 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn 6, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người làm chứng: Anh Dư Văn K, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Trú tại: Khu phố X, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tốm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 27/12/2018, Lê Đình L đi bắt ốc một mình tại khu vực cánh đồng thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện thấy có 01 con bò cái, lông vàng của ông Trần Trọng K sinh năm 1954 ở cùng thôn đang ăn cỏ. Quan sát xung quanh không thấy người trông coi, L nảy sinh ý định trộm cắp bò để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. L đi lại dắt con bò và đi ven theo đường cánh đồng phía tây đường 4A đến nhà anh Nguyễn Văn T sinh năm 1972 ở khu phố X, Phường Q, thành phố S (là bạn của L) để nhờ T tìm nguời mua bò nhưng anh T không có nhà. L cột bò ở ngoài đường trước nhà anh T rồi hỏi người dân đi qua đường xem có ai mua bò không thì được chỉ đến nhà anh Dư Văn K sinh năm 1963 ở khu phố X, phường Q, thành phố S làm nghề mổ trâu bò. L đi bộ đến nhà gặp anh K hỏi "Anh có mua bò không, em bán cho 1 con", K hỏi bò ở đâu thì L dẫn anh K đến nơi cột bò, anh K thấy bò không rõ nguồn gốc nên không mua. L tiếp tục đi bộ trên địa bàn phường Q để tìm bán bò nhưng không có ai mua. Đến 16 giờ cùng ngày, ông K phát hiện thấy bị mất bò, được người dân đi đường cho biết có một người đàn ông đã dắt bò của ông đi về Phường Q, thành phố S nên ông đã đến Công an phường Q trình báo về việc mất bò và đề nghị Công an phường hỗ trợ tìm bò. Đến 21giờ 30 phút cùng ngày, L không tìm được người để bán bò, nên định dắt bò về trả cho ông K nhưng sợ bị đánh nên L đã dắt bò đến Công an phường Q, thành phố S đầu thú giao nộp tang vật và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương nên ngày 28/12/2018 Công an Phường Q đã chuyển giao hồ sơ vụ việc, tang vật cùng đối tượng Lê Đình L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương để giải quyết theo thẩm quyền.

Theo báo cáo của ông Trần Trọng K, tài sản bị mất trộm là 01 con bò cái lông vàng, có trọng lượng 120 kg, ông mua năm 2012 khi đang là con bê với giá 11.000.000 đồng. Tại thời điểm bị trộm cắp trị giá khoảng 25.000.000 đồng.

Ngày 02/01/2019 Hội đồng định giá tài sản huyện Quảng Xương kết luận: 01 con bò cái trọng lượng 120 kg trị giá 22.000.000 đồng.

Ngày 09/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương đã trả lại con bò cho ông K, ông K đã nhận lại bò và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 10/Cr-KSĐT ngày 07/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Đình L về tội ‘’ Trộm cắp tài sản’’ theo khoản 1 Điều 173 – BLHS.Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 ; Điều 38 – BLHS. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình L từ 15 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự : Người bị hại ông Trần Trọng K đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng : Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương,Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Đình L đã khai nhận: Do không có tiền mua ma túy để sử dụng và tiêu xài cá nhân nên khoảng 14 giờ ngày 27/12/2018 tại cánh đồng thuộc thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa Lê Đình L đã có hành vi lén lút lợi dụng sơ hở trộm cắp 01 con bò trọng lượng 120kg của ông Trần Trọng K sinh năm 1954 ở thôn 6, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Trị giá tài sản bị trộm cắp là 22.000.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án ; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó chấp nhận cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khảng định: Hành vi của Lê Đình L đã phạm tội ‘’Trộm cắp tài sản’’theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Do không có tiền sử dụng ma túy nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại, bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 con bò lông vàng có trọng 120 kg của gia đình ông Trần Trọng K gây thiệt hại về tài sản cho gia đình ông K.

Hành vi của Lê Đình L là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo tuổi đời còn trẻ, không chịu lao động chân chính, ăn chơi đua đòi, là đối tượng nghiện ma túy dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Nhân thân : Năm 2013 đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện tỉnh Thanh Hóa, năm 2015 chấp hành xong về địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ông Trần Trọng K đã nhận lại bò là tài sản bị mất, ông K không có yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ : Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình L phạm tội ‘’Trộm cắp tài sản’’.

Xử phạt : Lê Đình L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/12/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6 ; điểm a khoản 1 Điều 23, Khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thường vụ Quốc hội – Buộc Lê Đình L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở chính quyền địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Tòa án ND Tỉnh;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Quảng Xương;

- Công an huyện Quảng Xương;

- Chi cục Thi hành án Quảng xương;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ

Trịnh Thị Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Sỹ Quyền

Nguyễn Hoài Nam

Trịnh Thị Hà

Cỡ chữ