- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS-ST Ngày: 13 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với Th1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Th1
Bà Nguyễn Thị Phương Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L; sinh ngày: 02/8/1986; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khối Nam, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Hợi, sinh năm 1959 và con bà: Hồ Thị Tân, sinh năm 1962, đều cư trú tại xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; vợ: Trần Thị Ngà, sinh năm 1990; Con: 03 đứa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên toà.
Người có quyền L1 và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Văn L1; Địa chỉ: Xóm 6A, xã Diễn Hùng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Hữu Th; Địa chỉ: xã Đồng Văn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
3. Anh Hồ Xuân T; Địa chỉ: Xóm 10, xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu,
tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
4. Anh Ngô Văn C; Địa chỉ: : Xóm Kỳ Lâm, xã Kỳ Sơn, huyện Tân Kỳ,
tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
5. Anh Ngô Viết Th1; Địa chỉ: Xóm Kỳ Lâm, xã Kỳ Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 13/12/2018, Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô mang BKS Lào: UN-2566 (theo hợp hợp đồng lao động đã ký kết với C ty vận tải hành khách trong ngoài nước Sen Cha Lơn, có địa chỉ tại Bản Húa Xe, huyện Chiêng Cha Lơn Súc, tỉnh Cham Pa Sắc - Lào) xuất phát từ bến xe Pắc Xế, tỉnh Chăm Pa Sắc, Lào chở hành khách về huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trên xe lúc này ngoài Nguyễn Văn L còn có Nguyễn Hữu Th (trú tại xã Đồng Văn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An) làm lái xe; Trần Văn L1 ( trú tại xóm 6A, xã Diễn Hùng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) làm phụ xe cùng khoảng 06 hành khách. Lúc xuất phát tại bến xe Pắc Xế, Nguyễn Văn L là người lái xe, Trần Văn L1 phụ xe đón khách còn Nguyễn Hữu Th đang ngủ trên xe. Đến khoảng 20h 30 phút cùng ngày, xe đi đến đường Quốc lộ thuộc bản số 11, huyện Mường Khôn, tỉnh Sa La Van, Lào thì dừng lại đón anh Hồ Xuân T (trú tại Xóm 10, xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) và bốc hàng hóa gồm phế liệu (nhôm, sắt vụn), lông gà, lông vịt của anh T lên xe để về huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, khi xe đang di chuyển trên đường Nguyễn Văn L thấy một người đàn ông lạ mặt đứng bên đường vẫy xe dừng lại. L mở cửa xe đi xuống, thấy người đàn ông này khoảng 30 tuổi, nói tiếng Việt Nam trao đổi thuê L vận chuyển động vật rừng, thường gọi là “con Trút” (Tê Tê) về huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn L hỏi người đàn ông số động vật đó bao nhiêu kg thì được trả lời “khoảng 13 kg”. Hai bên thống nhất giá tiền vận chuyển 300.000đ/kg, thanh toán lúc nhận hàng. Nguyễn Văn L đồng ý và nhận từ người đàn ông 02 túi xách (một túi màu đen và 1 túi nền trắng hoa chấm tròn đỏ đen) bên trong đựng 4 cá thể Tê Tê. Sau đó Nguyễn Văn L đưa 02 túi xách qua cửa sổ xe và nói với Trần Văn L1 “Bỏ 02 túi xách của khách lên xe cái”. L1 nhận hai túi xách của L và để lên vị trí hàng ghế bên trái (bên lái), dãy ghế thứ 3, tầng 2 của xe ô tô. Lúc nhận từ L 02 túi xách, L không nói cho L1 biết bên trong túi xách chứa đồ vật, hàng hóa gì nên L1 không biết 02 túi xách này chứa đựng cá thể Tê Tê. Nguyễn Văn L tiếp tục điều khiển xe đi được khoảng 40 km thì gọi Nguyễn Hữu Th dậy điều khiển xe. Đến khoảng 07 giờ ngày 14/12/2018 xe đi đến khu vực cửa khẩu Lào, hành khách vào làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu và được lực lượng chức năng Lào cho xe và hành khách đi qua. Sau đó xe và hành khách làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam tại cửa khẩu La Lay, tỉnh Quảng Trị, các lực lượng chức năng kiểm tra không phát hiện được gì nên cho nhập cảnh vào Việt Nam. Sau khi nhập cảnh vào Việt Nam thì xe ô tô mang BKS Lào: UN-2566 đi về Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe đang chạy trên quốc lộ 1A, đến thôn Tân Sơn, xã Kỳ Thọ, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng chức năng dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện tại vị trí ghế nằm thứ 03 (tính từ trên xuống) tầng 2 thuộc dãy ghế sau ghế lái 02 túi xách đựng 04 cá thể Tê Tê (trong đó mỗi cá thể Tê Tê được bọc trong một túi lưới cước màu xanh); kiểm tra khoang hành lý phát hiện có 18 bao đựng lông gà, lông vịt và 35 bao phế liệu (nhôm, sắt vụn) nên đã tạm giữ số động vật rừng (04 cá thể Tê Tê), phế liệu, lông gà, lông vịt cùng phương tiện xe ô tô để điều tra làm rõ.
- Biên bản khám phương tiện vận tải, đồ vật ngày 14/12/2018 do Phòng
Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường C an tỉnh Hà Tĩnh, xác định: Số tang vật trên xe ôtô gồm có 02 túi xách chứa 04 cá thể Tê Tê còn sống; 18 bao đựng lông gà, lông vịt có tổng trọng lượng 200kg; 35 bao phế liệu (nhôm, sắt) có tổng trọng lượng 1.000kg.
- Kết luận giám định động vật số 983/STTNSV ngày 17/12/2018 và
993/STTNSV ngày 19/12/2018 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện hàn lâm khoa học và C nghệ Việt Nam đã kết luận:
+ 04 (bốn) cá thể Tê Tê là loài Tê Tê Java có tên khoa học Manis
javanica, thuộc Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ). Loài Tê Tê Java thuộc phụ lục I Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của C ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).
- Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 26/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND Th1 phố Hà Tĩnh, kết luận: 1.000kg phế liệu (nhôm, sắt) có giá trị là 16.000.000 đồng; 200kg lông gà, lông vịt có giá trị 2.900.000đồng.
* Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 (một) xe ô tô khách (có giường nằm) nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng đỏ, BKS UN 2566, số khung: KMJRJ18ZPVC902069; số máy: D6AZ3R03557, xe đã qua sử dụng (đã trả cho chủ sở hữu).
- 01 (một) thẻ nhựa (đăng ký xe) màu xanh trắng có ngôn gữ nước Lào, sổ ngon ngữ nước Lào số 0685725 của xe UN 2566 (đã trả cho chủ sở hữu).
- 01 (một) cuốn sổ màu xanh nhạt (giấy phép liên vận Việt Nam - Lào) sổ ngon ngữ nước Lào số 0452 của xe UN 2566 (đã trả cho chủ sở hữu).
- 01 (một) cuốn sổ màu vàng (sổ kiểm định) sổ ngôn ngữ nước Lào số 2566 của xe UN 2566 (đã trả cho chủ sở hữu).
- 04 chiếc túi, chất liệu bằng cước màu xanh; 01 chiếc túi xách màu đen; 01 chiếc túi xách nền trắng hoa chấm tròn đỏ đen.
- 01 hộ chiếu số C442 cấp ngày 07/02/2018 mang tên Nguyễn Văn L, sinh ngày 02/8/1986 tại Nghệ An.
* Chuyển 18 chiếc bao tải, bên trong đựng lông gia cầm (lông gà, vịt) có trọng lượng 200kg và 35 bao chứa phế liệu (sắt, nhôm) có trọng lượng 1.000kg cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính.
* Chuyển giao 04 cá thể Tê Tê cho Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã ( Vườn Quốc gia Pù Mát) để tái thả về môi trường tự nhiên.
Cáo trạng số 24/CTr-KSĐT ngày 13/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm", quy định tại điểm a, điểm i khoản 2 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền C tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm i khoản 2 Điều 244, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn L 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vâ ̣t chứ ng và buô ̣c bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của cơ quan điều tra C an tinh Hả
̀ Tĩnh, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Hả
̀ Tinh, Kiểm sã
́t viên trong quá trình điều tra, truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa,
̀ bị cáo không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng.
Qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với cáo trạng đã truy tố, biên bản khám phương tiện vận tải, đồ vật, biên bản giám đi ̣nh, kết luâ ̣n giám đi ̣nh, lờ i khai của ngườ i liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2018 tại địa bàn xã Kỳ Thọ, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn L bị phát hiện và bắt giữ khi đang vận chuyển trái phép 04 cá thể Tê Tê và 3 bao bì bên trong đựng phế liệu và lông gà, lông vịt từ Lào nhập cảnh vào Việt Nam nhằm mục đích lấy tiền C. Trong đó 04 cá thể Tê Tê là loài Tê Tê Java có tên khoa học Manis javanica, là động vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, thuộc Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ); thuộc phụ lục I Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của C ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT- BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm
phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hiện nay đang có nguy cơ tuyệt chủng mà còn ảnh hưởng đến tinh hình trật tự , an toàn xã hội gây mất cân bằng hệ sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội và dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng các loài sinh vật quý hiếm. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, điểm i khoản 2 Điều 244 Bộ luật hình sự. Như vâ ̣y, Cáo trạng số 24/CTr-KSĐT ngày 13/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm a, điểm i khoản 2 Điều 244 Bộ luật hình sự quy định: Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB hoặc phụ lục I C ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Số lượng động vật của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú;
i) Vận chuyển qua biên giới.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , nhâ ̣n thứ c được viê ̣c vâ ̣n chuyển trái phép đô ̣ng vâ ̣t rừ ng quý hiếm bi ̣ pháp luâ ̣t ng hiêm cấm nhưng vi
̀ mục đích lợi nhuận đã coi thường pháp luật.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nă ̣ng TNHS. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên toà đều khai báo thành khẩn khai báo và đa thể hiê ̣̃
n sự ăn năn hối cải. Trên thực tế hành vi của bi ̣ cáo chưa gây ra thiê ̣t ha ̣i (động vật còn sống đã được tái thả về rừng) và số tiền bị cáo được hưởng lợi trong việc vận chuyển không lớ n, thực tế cũng chưa được hưởng L1, bị cáo chỉ mục đích vận chuyển lấy tiền C nhưng chưa được nhận tiền. Ngoài ra, trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã có Th1 tích trong phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Bị cáo đã tích cực hợp tác với đồn biên phòng Nậm Cắng trong việc phát hiện và báo tin tội phạm ma túy trên địa bàn.
Xét bị cáo có nhân thân tốt , có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy đi ̣nh ta ̣i điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; bị cáo
̀ có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp du ̣ng Điều 54, Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự để xử bi ̣
̀ cáo mứ c hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề và cho bị cáo cơ hội để sửa chữa sai lầm, được cải tạo tại địa phương mà không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tính răn đe giáo dục bị cáo. Quan điểm luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật hình sự quy đi ̣nh hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn đi ̣nh, thu lợi từ hành vi trái pháp luâ ̣t không lớ n và thực tế chưa được hưởng L1. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bi ̣ cáo.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, viê ̣c Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho bị cáo mô ̣t số đồ vâ ̣t không liên quan đến vu ̣ án là có căn cứ.
Số vật chứng , tài sản thu giữ còn lại cần áp dụng Điều 106 BLTTHS để xử lý theo quy định.
Trong vu ̣ án này, đối với người đã thuê Nguyễn Văn L vận chuyển 04 cá thể Tê Tê: Cơ quan CSĐT C an tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đó là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với Nguyễn Hữu Th và Trần Văn L1 là lái xe và phụ xe thuê cho
Nguyễn Văn L, trong quá trình L nhận vận chuyển cá thể Tê Tê, Th và L1 không biết nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Hữu Th và Trần Văn L1.
- Đối với hành vi thuê và vận chuyển thuê 1000 kg phế liệu (nhôm, sắt
vụn) và 200kg lông gà, lông vịt không có hồ sơ nguồn gốc, thủ tục theo quy định. Theo kết luận định giá tài sản của UBND Th1 phố Hà Tĩnh tổng giá trị đối với số phế liệu và lông gà, lông vịt trên là 18.900.000đ. Do đó không có căn cứ xem xét xử lý TNHS về hành vi buôn lậu. Cơ quan CSĐT đã tách hành vi trên đây của Hồ Xuân T và Nguyễn Văn L, đồng thời chuyển toàn bộ vật chứng 1000 kg phế liệu và 200kg lông gà, lông vịt đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính.
- Đối với chủ phương tiện xe khách UN - 02566 (C ty vận tải hành khách trong và ngoài nước Seng Cha Lơn; có địa chỉ tại bản Húa Xe, huyện Chiêng Cha Lơn Súc, tỉnh Cham Pa Sắc, Lào): Quá trình cho thuê và giao xe ô tô cho Nguyễn Văn L sử dụng vào mục đích kinh doanh vận tải hành khách, C ty không biết việc L vận chuyển trái phép động vật rừng cá thể Tê Tê nên không xem xét xử lý trách nhiệm.
Đối với tổ C tác của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế La Lay, tỉnh
Quảng Trị: Chưa làm hết trách nhiệm trong việc kiểm tra hàng hóa khi nhập cảnh nên không phát hiện hàng hóa vi phạm được vận chuyển trên xe khách UN-02566 cần rút kinh nghiệm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, điểm i khoản 2 Điều 244; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ
động vật nguy cấp, quý, hiếm".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thờ i gian thử thá ch, ngườ i được hưởng á n treo cố ý vi phạm nghia
̃ vụ 02 lần trở lên thi Toà á n có thể quyết đi ̣nh buộc ngườ i được hưởng á n treo
̀ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L 01 hộ chiếu số C442 cấp ngày
07/02/2018 mang tên Nguyễn Văn L, sinh ngày 02/8/1986 tại Nghệ An.
- Tịch thu tiêu huỷ: 04 chiếc túi chất liệu bằng cước màu xanh; 01 chiếc túi xách màu đen chất liệu túi bằng vải; 01 chiếc túi xách nền trắng hình chấm tròn đỏ đen.
(Tình trạng, đặc điểm được ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2019 giữa cơ quan điều tra C an tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hô ̣i quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cá o: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền L1 và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội, - VKSNDCC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PV27, PC 01 C an tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Phòng LLTP Sở Tư pháp; - Lưu HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trương Thị Lệ Thu |