- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội «Cố ý gây thương tích».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS - ST Ngày: 12/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Bùi Xuân Đãng
2. Ông Đinh Quang Huấn
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện T, TP Hà Nội
Đại diện VKSND huyện T - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Tô Thu T - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/HS- ST ngày 15/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST - HS ngày 25/02/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1980; HKTT: Số 5, hẻm 105/7/26, phố B, phường T, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Khoa và bà Nguyễn Thị Ngọc C; Có vợ là Nguyễn Thị Thanh T và 01 con (sinh năm 2009); Tiền án, tiền sự: Ngày 19/02/1998 Tòa án nhân dân quận H xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (án số 77/HSST); Ngày 23/12/2013 Tòa án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Năm 2000 Công an phường K xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Năm 2001 đưa vào cơ sở giáo dục (Danh chỉ bản số 018 lập ngày 03/12/2018 tại Công an huyện T;
Bị cáo hiện đang bị bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 theo Quyết định tạm giam của Công an Quận H (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Anh Trương Đức H - Sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 29/8/2017, anh Trương Đức H cùng với anh Vũ Văn H1 (sinh năm 1986: trú tại xã N, huyện N, Nam Định) đến quán tẩm quất tại 42 phố K, quận H, Hà Nội để tẩm quất thư giãn. Tại đây, giữa anh H và một nhân viên của quán tên là H2 (hiện chưa xác định được lai lịch) xảy ra mâu thuẫn nên anh H hất cốc nước vào mặt H2 thì H bị một thanh niên tên H3 dùng chuôi dao đập vào mồm, sườn phải và cổ tay trái làm H bị chảy máu mồm. Anh H chạy sang quán nước đối diện của bà Đoàn Thị Thanh T tại số nhà 100 đường 70 – thôn Y, xã T, Huyện T, Hà Nội và ngồi uống nước cùng anh Nguyễn Đức D. Tại quán tẩm quất, sau khi H2 kể lại việc vừa bị anh H đánh thì Nguyễn Hoàng L (bạn trai của H2) đi sang quán nước gặp H. L chửi anh H và dùng chân tay đấm đá vào người H và dùng 01 hót rác bằng tôn để ở quán nước đập 3 lần vào đầu H làm anh H bị thương và được đưa vào bệnh viện quân y 103 điều trị. Ngày 04/9/2017, anh Trương Đức H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Hoàng L về hành vi gây thương tích cho anh.
Anh H vào viện ngày 30/8/2017, ra viện ngày 05/9/2017. Tóm tắt bệnh án của Bệnh viện 103 thể hiện: Vết thương đỉnh phải dài 3cm, vết thương môi trên dài 01cm đã khâu, sưng nề, bầm tím ô mô cái phải, chụp cắt lớp vi tính sọ não: hình ảnh dập não xuất huyết vùng trán thái dương bên phải, gãy thành ngoài xương hàm, hốc mắt phải.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 226/TTPY ngày 30/3/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Hà Nội và Công văn số 291/TTPY ngày 21/9/2018 đã kết luận thương tích của anh Trương Đức H như sau:
1. Thương tích vùng đầu:
- Sẹo vết thương (thái dương – đỉnh phải) 1%
- Chấn động não điều trị ổn định 3%
Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe phần đầu: 04%. Nhiều khả năng thương tích vùng đầu do tác động của vật tày có cạnh gây ra.
2. Thương tích vùng môi trên bên phải: Sẹo vết thương trong niêm mạc môi trên bên phải: 01%. Nhiều khả năng thương tích vùng môi do tác động với vật tày có cạnh gây ra.
3. Chấn động phần mềm ô mô cái tay phải: Thông tư 20/2014/TT – BYT ngày 12/6/2014 không quy định về tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với loại thương tổn này.
4. Dập não xuất huyết vùng trán thái dương bên phải, gãy thành ngoài xoang hàm, hốc mắt phải, tụ dịch xoang hàm hai bên: Vì không có các phim chụp lại cộng hưởng từ kiểm tra sọ não nên chưa đủ căn cứ cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với loại thương tổn này.
Ngày 05/9/2018, Cơ quan điều tra đã ra quyết định giám định bổ sung đối với thương tích của anh H nhưng anh H từ chối giám định thương tích bổ sung, đồng ý với kết quả giám định tỷ lệ thương tích của anh H do Nguyễn Hoàng L gây ra (thương tích vùng đầu) là 4%.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Anh Trương Đức H khai nhận thương tích vùng đầu của anh là do Nguyễn Hoàng L gây ra. Anh H yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh toàn bộ chi phí điều trị theo quy định của theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 14/CT - VKSTT ngày 18/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Nguyễn Hoàng L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo xác nhận có trách nhiệm bồi thường toàn bộ chi phí điều trị của người bị hại.
* Người bị hại (anh Trương Đức H): có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh H toàn bộ chi phí điều trị là 13.264.324đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 - 18 tháng tù.
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trương Đức H toàn bộ chi phí điều trị theo các hóa đơn viện phí là 13.264.324đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc kH1 nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định pháp ý có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ ngày 29/8/2017, tại quán nước số nhà 100 đường 70, Thôn Y, xã T, Huyện T, Hà Nội, Nguyễn Hoàng L đã dùng tay chân đấm đá vào người anh Trương Đức H và dùng hót rác bằng kim loại – là hung khí nguy hiểm đập vào đầu anh H gây thương tích vùng thái dương đỉnh phải, chấn động não gây tổn hại sức khỏe 4%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án, 02 tiền sự (đều đã được xóa).
Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn trực tiếp nhưng bị cáo đã dùng hót rác bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đập vào đầu người bị hại gây tổn hại sức khỏe 4%, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác. Sau sự việc xảy ra, bị cáo chưa bồi thường chi phí điều trị cho người bị hại. Trong thời gian được tại ngoại, bị cáo lại phạm tội khác và đang bị giam giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quyết định tạm giam của Công an quận H. Để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tôi của bị cáo.
Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Người bị hại là anh Trương Đức H bị thương tích và phải điều trị tại Bệnh viện 103 từ ngày 30/8/2017 đến ngày 05/9/2017. Tại đơn yêu cầu bồi thường dân sự của anh H nộp cho Tòa án ngày 22/02/2019, anh H yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh toàn bộ chi phí điều trị theo các hóa đơn anh đã xuất trình tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu đòi bồi thường chi phí điều trị thương tích của anh H là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên, trong số các hóa đơn anh H xuất trình tại cơ quan điều tra, có 02 hóa đơn số 170904005D ngày 04/9/2017 với số tiền 72.600đồng và hóa đơn số 170901393D ngày 01/9/2017 với số tiền 3.687.876đồng gồm 2 bản trùng nhau nên tổng chi phí điều trị của anh H còn lại là 13.264.324đồng. Hội đồng xét xử căn cứ điều 590 và điều 468 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh H 13.264.324đồng và phải chịu lãi suất của số tiền chậm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thanh toán sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án.
- Đối với chiếc hót rác bị cáo dùng để gây thương tích cho anh H, không thu hồi được nên không xem xét.
- Đối với thương tích vùng môi của anh H do Trương Ngọc H3 dùng chuôi dao phóng lợn đánh với thương tích 1% nhưng anh H không yêu cầu khởi tố hình sự đối với Trương Ngọc H3. Hiện nay, H3 không có mặt tại địa phương và sự việc xảy ra trên địa bàn quận H nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã tách rút tài liệu, chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an quận H giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST, án phí DSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội «Cố ý gây thương tích».
2. Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng L 12 (mười hai) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về dân sự: Áp dụng điều 584, điều 590 và điều 468 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trương Đức H 13.264.324đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thì hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 663.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại (anh Trương Đức H) có quyềnkháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. Huyện T, TP Hà Nội; - Công an huyện T, TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Huyện T, Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Huyện T, Hà Nội; - Bị cáo. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài |