vanban.org

Bản án 16/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L (Tức Bùi Thế L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 01 (Một) năm tù, cho hưởng treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/11/2019). Giao bị cáo Bùi Văn L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L (Tức Bùi Thế L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HS-ST
Ngày 07 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khôi, bà Vi Thị Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Đặng Bá Hưng - Kiểm sát viên;

Ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn L (Tên gọi khác: Bùi Thế L), sinh năm 1966 tại huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Trần Thị H; có vợ là Ngô Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị hại: Bùi Văn Q, sinh năm 1969; trú tại: Thôn A, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang; có mặt

* Người làm chứng:

- Bế Thị N, sinh năm 1978; vắng mặt

- Ngô Thế Á, sinh năm 1978; vắng mặt

- Vũ Xuân C, sinh năm 1990; vắng mặt

- Bùi Thị Ch, sinh năm 1958; vắng mặt Đều trú tại: Thôn A, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Anh Bùi Văn Q khai: Gia đình anh Q có vườn cây ăn quả, thỉnh thoảng cây cối trong vườn bị phá hoại. Vì lý do đó, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/4/2019, anh Q điều khiển xe máy đem theo Camera an ninh đi từ nhà đến vườn cây ăn quả để lắp Camera theo dõi. Khoảng 10 phút sau, anh Q phát hiện tiếng xe máy đi trên đường bê tông liên thôn, hướng đi từ thôn H đến thôn A, xã A, khi nhìn ra thì phát hiện thấy anh trai mình là Bùi Văn L đi xe máy, ngay phía sau L có hai cây Sưa của gia đình anh Q mới trồng ở rìa vườn, dọc theo đường bê tông liên thôn bị chặt gãy, ngọn đổ ra đường. Do hai anh em đã có mâu thuẫn từ trước, anh Q nghi ngờ L là người chặt cây của gia đình mình nên đã lấy xe máy điều khiển đuổi theo, khi đến đoạn ngã ba đường đất gần nhà anh Lý Văn T ở cùng thôn thì đuổi kịp, anh Q vượt lên trước chặn xe của L, đầu xe của L va vào đuôi xe của anh Q nên bị đổ xuống đường. Anh Q dừng xe tiến lại chỉ tay vào mặt L và nói: “Hôm nay mày chạy được không, mày là con chó chứ không phải là người”; ngay lúc đó L cầm một con dao nhọn bằng kim loại, cán bằng gỗ chém liên tục về phía Q; bị L chém nên anh Q vừa tránh, vừa lùi được khoảng 10m thì bị L chém trượt vào dái tai trái làm anh Q bị ngã ngửa xuống đường, L tiếp tục chém nên anh Q giơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng một nhát vào cẳng tay trái, một nhát trúng vào các ngón 3, 4, 5 bàn tay trái, anh Q vùng dậy bỏ chạy thì bị L chém tiếp một nhát trúng vào vùng thắt lưng, L đuổi theo khoảng 100m thì dừng lại, anh Q chạy vào nhà chị Bế Thị N ở gần đó băng bó vết thương. Sau đó anh Q được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện S để điều trị, cứu chữa vết thương, anh Q nằm viện từ tối ngày 29/4/2019 đến ngày 08/5/2019 thì ra viện.

2. Theo Bùi Văn L khai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/4/2019, L điều khiển xe mô tô từ nhà đến thôn L, xã A để mua bia về uống, trong cốp xe máy vẫn để 01 áo mưa, 01 con dao nhọn và một số đồ vật là dụng cụ hàng ngày L đi làm thuê. Khi đi đến khu vườn Keo của gia đình thì L nhìn thấy có một chiếc xe máy dựng ở bờ đường, L dừng xe lại thì nhìn thấy Bùi Văn Q đi từ trong vườn Keo của gia đình L đi ra. Do hai bên đã có mâu thuẫn với nhau từ trước nên L chửi Q vào vườn nhà L làm gì, Q cũng chửi lại L; sau đó Q lấy xe máy bỏ đi, L đi xe máy đuổi theo, hai xe va quệt với nhau làm L bị ngã, xe máy của L đổ xuống đường làm bật cốp yên xe máy, văng áo mưa, con dao nhọn và các đồ vật trong cốp xe ra đường. Lúc này Q dùng chân đá trượt vào vai, má trái L, Q tiếp tục dùng súng bắn tia lửa điện về phía L; L lấy được áo mưa để che chắn, tay phải lấy được con dao nhọn chém liên tiếp nhiều nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái rồi từ trái qua phải về phía Q, do Q bỏ chạy nên L ra lấy xe máy đi về nhà. L thừa nhận các vết thương ở cẳng tay trái, các ngón tay 3, 4, 5 bàn tay trái và vùng thắt lưng của anh Q là do L dung dao nhọn chém gây nên. Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã A, huyện S đã tiến hành làm việc với Bùi Văn L, tạm giữ một con dao nhọn bằng kim loại có kích thước (4,5 x 27)cm, cán dao có nắm bằng gỗ, L khai đã dùng con dao đó gây thương tích cho anh Q.

3. Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 08/5/2019, Trung tâm y tế huyện S xác định: Bùi Văn Q vào viện lúc 20 giờ 00 phút ngày 29/4/2019, ra viện lúc 16 giờ 00 phút ngày 08/5/2019. Tình trạng thương tích lúc vào viện:

- Vết thương đốt 2 ngón 4, đứt gân gấp vùng II;

- Vết thương đốt 3 ngón 5, kích thước 02cm;

- Vết thương đốt 1 ngón 3, kích thước 02cm;

- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 02 x 01cm;

- Vết thương vùng thắt lưng trái, kích thước 02 x 01cm.

4. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8898/19/TgT ngày 10/6/2019, Trung tâm pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận thương tích của anh Bùi Văn Q như sau:

- Thương tích vết sẹo đốt 1 ngón 3: 1%;

- Thương tích vết sẹo hình chữ Z đốt 2 ngón 4 + Đứt gân gấp vùng II ngón IV tay trái + Khám thần kinh, vận động: Vận động ảnh hưởng đến gấp ngón IV bàn tay trái mức độ nhiều: 6%;

- Thương tích vết sẹo đốt 3 ngón 5: 1%;

- Thương tích vết sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái: 1%;

- Thương tích vết sẹo vùng thắt lưng: 1%.

Kết luận Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10% (mười phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên

5. Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-SĐ ngày 03 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biều luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 08 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 – 24 tháng; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 01 con dao nhọn chuôi gỗ của bị cáo để tiêu hủy, tịch thu 01 chiếc áo dài tay màu xanh đã cũ của anh Bùi Văn Q giao nộp tại phiên tòa để tiêu hủy. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Bị cáo Bùi Văn L thành khẩn khai báo, bị cáo thừa nhận thương tích của anh Bùi Văn Q là do bị cáo dùng dao nhọn gây nên, bị cáo bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội; bị cáo rất ăn năn hối hận nên đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Bùi Văn L và anh Bùi Văn Q là anh em ruột, hai người đã có mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/4/2019 bị cáo L và anh Q gặp nhau ở khu vực đường bê tông thôn An Bá, xã An Bá, gần với vườn cây của hai gia đình; do nghi ngờ nhau có hành vi phá hoại vườn cây của gia đình nhà mình nên hai bên xảy ra chửi nhau, dẫn đến đánh nhau; L dùng dao nhọn chém nhiều nhát gây thương tích cho anh Q ở cẳng tay trái, các ngón 3, 4, 5 bàn tay trái và vùng thắt lưng bên trái. Hậu quả làm cho anh Q bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Mặc dù bị cáo Bùi Văn L cho rằng anh Q dùng súng bắn tia lửa điện nên L mới lấy dao nhọn chống trả, nhưng lời khai của L không có cơ sở, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh anh Q đã dùng súng điện bắn tia lửa điện về phía L. Hành vi dùng dao nhọn chém gây thương tích cho anh Q của bị cáo Bùi Văn L là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến sức khỏe người khác, mặc dù thương tích của anh Q do bị cáo gây nên dưới 11% nhưng bị cáo đã dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm để gây thương tích; vì vậy hành vi đó của bị cáo Bùi Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội danh trên theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy bị cáo Bùi Văn L là người dân lao động có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại. Bị cáo phạm tội có nguyên nhân từ lỗi của người bị hại, mặc dù anh Bùi Văn Q không nhìn thấy và cũng không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo đã chặt phát cây Sưa mới trồng của gia đình anh Q, nhưng anh Q đã chửi mắng, xúc phạm bị cáo; do anh Q làm em mà chửi mắng một cách vô cớ nên bị cáo đã tức giận, dẫn đến thực hiện hành vi dùng dao nhọn chém, gây thương tích cho anh Q. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhệ nêu trên quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ, đúng với chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Nhà nước ta.

Về vật chứng: 01 con dao nhọn bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ, kích thước (4,5 x 27) cm thu giữ của Bùi Văn L. Xét thấy con dao này là hung khí, công cụ mà L sử dụng để gây thương tích cho anh Q nhưng không có giá trị nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Tại phiên tòa anh Bùi Văn Q giao nộp 01 chiếc áo dài tay màu xanh đã cũ, phía sau lưng áo có một vết rách nằm ngang; anh Q xác định chiếc áo này anh mặc trên người ngày 29/4/2019, do L dùng dao chém vào vùng thắt lưng nên áo bị rách và gây nên vết thương; chiếc áo đã cũ, không còn giá trị nên anh Q đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Xét thấy chiếc áo này là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố anh Bùi Văn Q không yêu cầu Bùi Văn L phải bồi thường thiệt hại; giai đoạn chuẩn bị xét xử anh Q có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại các khoản viện phí, mất thu nhập, tổn thất tinh thần tổng cộng = 11.570.000đồng, bị cáo L chấp nhận và tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của anh Q. Tại phiên tòa anh Q xác nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền nêu trên, anh không có yêu cầu gì nữa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Bùi Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nhưng bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở xã đặc biệt khó khăn; theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định của pháp luật và hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L (Tức Bùi Thế L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 01 (Một) năm tù, cho hưởng treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/11/2019).

Giao bị cáo Bùi Văn L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu của Bùi Văn L 01 con dao nhọn, chuôi bằng gỗ, kích thước (4,5 x 27) cm để tiêu hủy.

- Tịch thu của anh Bùi Văn Q 01 chiếc áo dài tay màu xanh đã cũ giao nộp tại phiên tòa để tiêu hủy.

Vật chứng nêu trên lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

3- Áp dụng khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn L.

Bị cáo có mặt, người bị hại có mặt đều có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ