- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS-PT Ngày 25-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thành Quang
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Nguyễn Văn Được
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đậu Trọng Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2018/TLPT-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Quốc D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 93/2018/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Quốc D, sinh năm 1984 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: khu phố 5, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quốc V và bà Đỗ Thị H; có vợ Nguyễn Thị Thúy N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 08/2Ọ03/HSST ngày 13/3/2003; bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc xử phạt 09 tháng tù về tội „Trộm cắp tài sàn” tại Bản án số 14/2013/HSST ngày 13/8/2013, chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2014; bị Công an huyện Ninh Sơn khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 14/6/2018; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2018 và hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang - Tháp Chàm (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, còn có 05 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập.
- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo không liên quan đến kháng cáo, không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc D cùng đồng bọn đã cùng nhau trộm cắp và tiêu thụ nhiều xe mô tô trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Riêng trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, các bị cáo đã trộm cắp và tiêu thụ 02 xe mô tô. Cụ thể như sau:
Vụ 1: Vào ngày 05/5/2018, Trần Quốc D rủ em trai là Trần Quốc L, đi trộm cắp tài sản kiếm tiền tiêu xài, L đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, D chuẩn bị 01 vam phá khóa và giao xe mô tô kiểu dáng Sirius, màu đỏ-đen 85D1-005.49 của D cho L chở. Khoảng 16 giờ cùng ngày, cả hai phát hiện 01 xe Sirius, màu đỏ- đen 85B1-150.04 của anh Phan Văn Đ đang dựng trước cửa nhà ở khu phố 3, phường B, thành phố P, không có người trông coi. L dừng xe, D đi đến, dùng vam phá khóa, nổ máy và chạy về nhà L. D phá khóa cốp xe, lục lấy trong cốp xe 20 USD (loại mệnh giá 1 USD). Sau đó D gọi cho Nguyễn Hoàng T bán chiếc xe vừa trộm được. Mặc dù biết là xe do trộm cắp mà có nhưng T vẫn gọi cho Nguyễn Thế P, nhờ P bán dùm chiếc xe nói trên. Biết rõ xe do trộm cắp mà có nhưng P bán cho bà Nguyễn Thị C với giá 5.000.000 đồng. Khi mua xe bà C không biết xe này là do trộm cắp mà có, thấy xe không có biển số nên bà C xin 01 biển số 62G1-042.84 gắn vào sử dụng. Số tiền bán xe, P đưa cho T 4.300.000 đồng, giữ lại 700.000 đồng. T đưa cho D 3.500.000 đồng, T giữ lại 800.000 đồng. D chia cho L 1.500.000 đồng, còn D giữ 2.000,000 đồng. Tất cả tiêu xài cá nhân hết.
Vụ 2: Khoảng 21 giờ ngày 14/5/2018, L điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius, màu đỏ-đen 85D1-005.49 chở D đi trộm cắp tài sản. Đến chợ Tháp Chàm cả hai phát hiện 01 xe Sirius màu đỏ đen 85B1- 419.00 dựng trước nhà ông Nguyễn L, không có người trông coi (xe này là của anh Nguyễn Quốc O). Lam dừng xe bên hông nhà, D đi đến dùng vam phá khóa, rồi chạy xe về nhà L cất giấu. Khoảng 09 giờ ngày 15/5/2018, D gặp T và nói mới lấy trộm được chiếc xe, nhờ T bán hộ, T đồng ý và đưa xe nhờ P bán giúp. Biết rõ xe do trộm cắp được nhưng P và bạn gái là Bùi Thảo H vẫn đồng ý và đem xe này đến nhà Trần Minh T để bán cho Trần Minh T. Mặc dù biết rõ xe do trộm cắp mà có nhưng Trần Minh T vẫn đồng ý mua. Trần Minh T dẫn H và P đến gặp ông Trần H (là ba của T) thỏa thuận mua bán với H. Trần Minh T sợ ông H không đồng ý mua nên nói dối về nguồn gốc chiếc xe, H làm giấy tờ mua bán với giá 4.800.000 đồng. P đưa cho T 4.000.000 đồng, Phước giữ lại 800.000 đồng. T đưa D 3.200.000 đồng, T giữ lại 800.000 đồng. Dũng chia cho L 1.500.000 đồng, D giữ 1.700.000 đồng. Tất cả tiêu xài cá nhân hết.
Như vậy, từ ngày 05/5/2018 đến ngày 14/5/2018, Trần Quốc D và Trần Quốc L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thế P, Bùi Thảo H và Trần Minh T đã tiêu thụ tài sản do D và L trộm cắp được, thu lợi bất chính số tiền cụ thể như sau: Trần Quốc Dg: 4.151,040 đồng (Vụ 1: 2.451,040 đồng, vụ 2: 1.700.000 đồng); Trần Quốc L: 3.000.000 đồng; Nguyễn Hoàng T: 1.600.000 đồng; Nguyễn Thế P: 1.500.000 đồng.
Tại biên bản định giá tài sản số số 37, 37a ngày 30, 31/05/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xác định chiếc xe mô tô của anh Phan Văn Đ có giá trị là 13.993.000 đồng và xe mô tô của anh Nguyễn Quốc O có giá trị là 13.993.000 đồng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Ninh Thuận xác định 20 USD vào ngày 05/5/2018 có giá trị là 451.040 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc D, Trần Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thế P, Bùi Thảo H (Na), Trần Minh Tphạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Quốc D.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 30/5/2018.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Quốc L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P 09 (Chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Xử phạt bị cáo Bùi Thảo H ( Na), Trần Minh T mỗi bị cáo 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và báo quyền kháng cáo.
Ngày 19/11/2018 bị cáo Trần Quốc D kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
- Về hình thức đơn kháng cáo: Đúng hình thức và trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù là đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Trần Quốc D kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc D thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Trong các ngày 05/5/2018 và 14/5/2018 tại địa bàn phường Bảo An, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, bị cáo Trần Quốc D cùng đồng phạm đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản 01 xe mô tô 85B1-150.04 và 20 USD của anh Phan Văn Đ và 01 mô tô 85B1-419.00 của anh Nguyễn Quốc O, tổng giá trị tài sản là 28.437.040 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Trần Quốc D có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo D có các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa.
Do không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc D nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2018.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quốc D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Ninh Thuận; -VKSND Tp. PR-TC; -TAND Tp. PR-TC; -Công an Tp. PR-TC; -Chi cục THADS Tp. PR-TC; -Bị cáo; -PV 27 Công an tỉnh Ninh Thuận; -Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; -Phòng KTNV-THA; Tổ HCTP; -Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Trương Thành Quang |