- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Hồng Diễm cùng đồng bọn - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 07/2018/TB – TA ngày 10/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HS-PT Ngày 19 - 02 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Quách Xía Muội - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 126/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Huỳnh Hồng D, Lâm Huyền T do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Ngọc H.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo
1. Họ và tên: Huỳnh Hồng D, sinh năm1984 tại Cà Mau
Nơi cư trú: Ấp Dinh H, xã Tân A, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh C và bà Đoàn Thị L; có chồng: Huỳnh Trọng Tài và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/11/2017 đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Lâm Huyền T, sinh năm1986 tại Cà Mau
Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn C1 và bà La Hồng T1; có chồng: Huỳnh Minh Thương và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2017 đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo D, T: Luật sư Trần Hoàng P – Văn phòng luật sư Trần Hoàng P thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị hại: Chị Nguyễn Bùi Thu H, sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Trịnh Thanh L1 – Văn phòng luật sư Trịnh Thanh L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Diệu H, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Năm C, huyện Năm C, tỉnh Cà Mau.
2. Anh Huỳnh Minh T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Nơi cu trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau.
- Người làm chứng:
1. Chị Trần Kiều M, sinh năm 1991 (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Ky B, sinh năm 1986 (vắng mặt)
3. Anh Lư Cảnh T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
4. Ông Tiết Văn T, sinh năm 1964 (vắng mặt)
5. Ông Lư Văn X, sinh năm 1962 (có mặt)
Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau.
6. Ông Ngô Văn X, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Năm C, huyện Năm C, tỉnh Cà Mau.
- Giám định viên: Nguyễn Hữu V, sinh năm 1980 - Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2017, Huỳnh Hồng D từ nhà tại ấp Dinh H, xã Tân A, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau đi đến nhà anh ruột là Huỳnh Minh T1 ở Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau tìm Nguyễn Bùi Thu H ở gần nhà T1 để nói chuyện việc H đăng những nội dung xúc phạm đến D và T1 trên mạng xã hội (facebook). Khi D gặp Lâm Huyền T là vợ T1 thì hỏi có biết việc H nói xấu D và T1 trên mạng xã hội hay không thì T nói có biết.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T ngồi trước cửa nhà nhìn thấy H điều khiển xe mô tô từ hướng chợ nhỏ về nhà T nên T ném cái khên nhựa văng ra lộ chặn ngay trước đầu xe của H. Thấy vậy, H bước xuống xe thì T xông đến dùng tay câu cổ của H và la lớn. Lúc này, D đang nằm võng trong nhà nghe T lớn tiếng nên chạy ra thì thấy T đang câu cổ của H nên D chạy đến dùng tay phải nắm tóc của H còn tay trái đánh mạnh nhiều cái vào vùng mặt của H làm cho H, T và D bị ngã xuống lộ. T buông H ra, còn D tiếp tục dùng tay đánh vào vùng mặt của H. Lúc này, anh Nguyễn Ky B ở gần đó thấy nên chạy đến nắm tay D kéo ra thì bị T1 can ngăn nên giữa Ky B và T1 cự cãi nhau. Đồng thời, gia đình của H đến nên D lên xe chạy về nhà, còn H được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau điều trị.
Ngày 29/7/2017 Nguyễn Bùi Thu H có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người tham gia gây thương tích cho H, đồng thời yêu cầu được giám định thương tích.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 38/TgT ngày 26/9/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Mắt phải bị tác động trực tiếp làm cho sưng nề, bầm tím mi, xuất huyết kết mạc, đụng dập nhãn cầu, đồng tử dãn, giảm thị lực. Qua thời gian điều trị hiện tại giảm thị lực (3/10), phản xạ ánh sáng (+) (-), dãn đồng tử. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 14%.
Ngày 06/6/2018, bị cáo Huỳnh Hồng D có đơn đề nghị yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật của bị hại Nguyễn Bùi Thu H.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 2871/C54B ngày 13/7/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định, chị Nguyễn Bùi Thu H chấn thương mắt phải đã khỏi không để lại di chứng, có tỷ lệ thương tật là 00%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 07/2018/TB – TA ngày 10/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Ngọc H quyết định:
Căn cứ Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 587; Điều 590; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 104; điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hồng D 08 (tám) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 104; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Huyền T 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Hồng D phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Bùi Thu H số tiền 7.546.000 đồng và buộc bị cáo Lâm Huyền T phải bồi thường cho bị hại là số tiền 10.746.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thanh toán, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 10 tháng 9 năm 2018, bị cáo Huỳnh Hồng D và bị cáo Lâm Huyền T có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên các bị cáo không phạm tội.
Ngày 12 tháng 9 năm 2018, chị Nguyễn Bùi Thu H có đơn kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Hồng D và bị cáo Lâm Huyền T. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại. Xử lý Huỳnh Minh T1 về hành vi “Cố ý gây thương tích” với vai trò giúp sức. Điều tra, truy tố người phụ nữ dáng mập đánh H gây thương tích.
Tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại.
Người bào chữa cho các bị cáo D, T đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, xin trình bày thêm: Xem xét lại hành vi chủ quan, khách quan tội phạm của bị cáo vì mục đích của các bị cáo chỉ để làm rõ việc bị hại có hành vi xúc phạm gia đình bị cáo, không gây thương tích cho bị hại mà có người lạ mặt gây ra. Mặc khác, việc Trung tâm giám định pháp y tỉnh Cà Mau kết luận chuyên khoa về mắt là chưa phù hợp vì chưa có phương tiện đảm bảo về mặt kỹ thuật, chuyên môn và độ chính xác không cao.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại cho rằng bỏ lọt tội phạm là người phụ nữ lạ mặt; khoản tiền bị mất của bị hại chưa được cấp sơ thẩm chưa làm rõ; việc kết quả giám định là không có mâu thuẫn, phù hợp với hình ảnh thương tích được chụp lại của bị hại. Đồng tình 01 phần quan điểm Viện kiểm sát về hủy án sơ thẩm để điều tra, xem xét lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ, phúc thẩm: Các bị cáo Huỳnh Hồng D, Lâm Huyền T và bị hại Nguyễn Bùi Thu H đều thừa nhận:
Do xuất phát từ việc bị hại Nguyễn Bùi Thu H dùng lời lẽ xúc phạm đến bị cáo Huỳnh Hồng D và anh Huỳnh Minh T1 là chồng của bị cáo Lâm Huyền T trên mạng xã hội Facebook nên khoảng 12 giờ ngày 27/7/2017 tại nhà của bị cáo Lâm Huyền T thuộc Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau, T có hành vi ném cái khên nhựa ra lộ để chặn đâu xe của chị H. Sau đó, T dùng tay câu cổ H lại. Lúc này, Huỳnh Hồng D từ trong nhà chạy ra, tay phải nắm lấy tóc H, dùng tay trái đánh nhiều cái vào vùng mặt của H gây thương tích. Đến khi người nhà của H đến can ngăn thì các bị cáo mới dừng lại.
Riêng đối với chị H có khai nhận: Ngoài D và T gây thương tích cho chị. Tại thời điểm đánh nhau còn có 01 đối tượng lạ mặt là người mập, đen tham gia đánh chị. Tuy nhiên, chị không xác định được họ, tên, địa chỉ của đối tượng này. Đối với anh Huỳnh Minh T1 là chồng của T, T1 đã có hành vi cản trở người khác vào can ngăn D, T gây thương tích cho chị.
. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Biên bản ghi lời khai của những người có mặt tại hiện trường như anh Nguyễn Ky B, ông Lư Văn X (dượng của bị hại) , anh Lư Cảnh T2, ông Ngô Văn X, bà Nghiêm Thanh T3 và bị hại đều nhận: Khi xảy ra xô xát đánh nhau, ngoài bị cáo D và bị cáo T thì còn có một người phụ nữ lạ mặt tham gia đánh bị hại. Đối với bị cáo Huỳnh Hồng D, Lâm Huyền T, anh Huỳnh Minh T1 đều khai nhận chỉ có D và T tham gia đánh và gây thương tích chị H.
Xét thấy lời khai của những người có mặt tại hiện trường khi xảy ra vụ án có sự mâu thuẫn về sự có mặt của đối tượng lạ mặt gây thương tích cho chị H nhưng cấp sơ thẩm không cho đối chất để điều tra làm rõ có hay không đối tượng đồng phạm trong vụ án nhằm tránh bỏ lọt tội phạm.
Quá trình điều tra, chị H có khai nhận khi xảy ra xô xát có người chứng kiến là anh Võ Đình Nhật T3 (tên gọi khác là B1) đã sử dụng điện thoại để ghi hình lại sự việc đánh nhau. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không làm việc với anh Tảo về vấn đề này. Trường hợp, anh T3 có ghi hình như lời trình bày của bị hại thì cần thu thập chứng cứ này để xác định lai lịch, nhân thân của đối tượng lạ mặt, cũng như xem xét hành vi của các đối tượng có liên quan.
. Đối với Kết luận giám định thương tích của bị hại:
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 38/TgT ngày 26/9/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 14%.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Huỳnh Hồng D có đơn yêu cầu giám định lại thương tích đối với chị H nhưng không được chấp nhận.
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo D tiếp tục có đơn yêu cầu giám định lại thương tích đối với chị H và được chấp nhận.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 2871/C54B ngày 13/7/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định, chị H chấn thương mắt phải đã khỏi không để lại di chứng, có tỷ lệ thương tật là 00%.
Vấn đề này Tòa sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận. Lẽ ra sau khi có kết quả, thấy có sự khác nhau về kết quả giám định thương tích cho bị hại thì Tòa sơ thẩm cần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để có quan điểm tiếp tục truy tố hay không mới phù hợp.
Xét về nội dung Kết luận giám định số 38 thấy rằng: Không có thực hiện các biện pháp chuyên môn về cận lâm sàng mà chỉ dùng đèn HEINZE để soi đáy mắt. Trong khi Kết luận giám định pháp y về thương tích số 2871 có thể hiện chụp đáy mắt. Vấn đề này chưa được xác minh, làm rõ cách khám nào có độ chính xác cao hơn. Trong khi, bị hại có cung cấp phiếu thu về việc khám bệnh ở Bệnh viện Mắt Sài Gòn II vào ngày 31/7/2017, cách ngày bị gây thương tích 04 ngày. Tại phiếu thu thể hiện, Bệnh viện Mắt Sài Gòn II có thực hiện các biện pháp như đo khúc xạ máy; đo nhãn áp; khám mắt; soi đáy mắt. Nhưng cơ quan điều tra không thu thập, xác minh làm rõ để cung cấp cho Cơ quan giám định lần đầu là thiếu sót. Vấn đề này cấp phúc thẩm đã có công văn số 35/TA ngày 15/11/2018 gửi cho Bệnh viện Mắt Sài gòn II và đã nhận được Tóm tắt bệnh án đối với bệnh nhân: Nguyễn Bùi Thu H (là bị hại), có nội dung: Đo thị lực mắt trái: 1/10->KKT. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với Kết quả giám định mà cấp sơ thẩm đã sử dụng làm căn cứ xét xử.
Từ nội dung phân tích trên, nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên cần chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, các luật sư hủy bản án sơ thẩm để giao về cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử lại. Trường hợp quá trình điều tra, không chứng minh được kết quả giám định lần đầu và kết quả giám định lại, kết quả nào là phù hợp thì cần giám định lại lần thứ hai theo quy định tại Điều 211 của Bộ luật Tố tụng hình sự và có thu thập, cung cấp hồ sơ tại Bệnh viện mắt Sài gòn II cho cơ quan giám định.
. Do huỷ án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo của các bị cáo, bị hại. Án phí hình sự các bị cáo, bị hại không phải chịu. Tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, bị hại được nhận lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 07/2018/TB – TA ngày 10/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Ngọc H.
Giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc H để điều tra lại theo thủ tục chung.
Về án phí: Các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm. Ngày 13/9/2018, chị Nguyễn Bùi Thu H có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc H theo biên lai thu tiền số 0005398, nay được nhận lại.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Ngọc H; - Công an huyện Ngọc H; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc H; - Chi cục THADS huyện Ngọc H; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chung Văn Kết |