vanban.org

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Thị Ka M được ly hôn với anh Thạch P.

Về quyền nuôi con chung: Giao cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Mai H (Nam), sinh ngày 06/12/2012. Trong thời gian anh P nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Không xem xét, giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng do không có yêu cầu.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Danh Thi Ka M - BĐ Thach P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Thị Ka M được ly hôn với anh Thạch P.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12/4/2019
Về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Thanh Tùng;

2. Ông Lê Quang Nhật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2018 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Danh Thị Ka M, sinh năm 1989 (Có mặt); địa chỉ: Số nhà 283B đường K, khóm H, Phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Thạch P, sinh năm 1991 (Vắng mặt); địa chỉ: Số nhà 219 ấp T, xã V, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 17/9/2018 (BL 01) cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Danh Thị Ka M trình bày:

Năm 2009, chị M kết hôn với anh Thạch P và được Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố S cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/4/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị M sống chung với gia đình của chị M tại số nhà 283B đường K, khóm H, Phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, vợ chồng chị M đã có 01 con chung là cháu Thạch Mai H (Nam), sinh ngày 06/12/2012. Do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn, anh P thường xuyên uống rượu dẫn đến mất kiểm soát, nhiều lần hành hung chị M nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, không còn hạnh phúc nữa. Từ ngày 05/3/2015, anh Thạch P đã cùng với cháu H trở về sinh sống tại số nhà 219 ấp T, xã V, thị xã C và vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay, chị Danh Thị Ka M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Thạch P.

Về con chung: Chị M đồng ý để anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, chị M sẽ chăm lo, chu cấp cho cháu H tùy theo điều kiện thực tế.

Về tài sản và nợ chung: Chị M và anh P tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Chứng cứ do chị M giao nộp gồm: Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu; Trích lục kết hôn của anh P với chị M, Trích lục khai sinh của cháu Thạch Mai H (BL 02 - 08).

- Đối với bị đơn Thạch P: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo đã thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị M nhưng anh P không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Anh P còn vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp nêu trên cũng như việc thu thập được tài liệu, chứng cứ cho anh P và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 29/3/2019, bị đơn P vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được là: Văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố S về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, nguyện vọng và điều kiện của các đương sự (BL 31); Biên bản xác minh về nơi cư trú, việc giao nhận văn bản tố tụng của bị đơn và tình trạng phát triển của cháu Thạch Mai H (BL 35).

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M ly hôn với anh P; giao cho anh P được nuôi dưỡng cháu H; không xem xét, giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng cũng như tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; quyết định nghĩa vụ chịu án phí đối với các đương sự, theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Danh Thị Ka M khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Thạch P và giải quyết quyền nuôi con chung. Yêu cầu này của chị M được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình); thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Thạch P đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Thạch P.

Về nội dung giải quyết:

- Căn cứ Trích lục kết hôn và bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Trích lục khai sinh của cháu H cũng như việc không phản đối của anh P và kết quả xác minh của Tòa án; đối chiếu với quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Danh Thị Ka M về việc kết hôn với anh Thạch P, được Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố S cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/4/2012 và vợ chồng đã có 01 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị M và anh P đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, dù không có thỏa thuận khác và cũng không vì yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội; chỉ vì bất đồng quan điểm mà chị M và anh P phát sinh mâu thuẫn, xảy ra tình trạng bạo lực gia đình và không còn sống chung với nhau từ hơn 04 năm nay, mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, cắt đứt liên lạc với nhau.

Như vậy, cùng với việc không phản đối yêu cầu ly hôn của chị M đã chứng tỏ anh P không có nguyện vọng đoàn tụ; vợ chồng không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình nên chị M với anh P đã không còn tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân của các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị M ly hôn với anh P.

- Tại thời điểm xét xử vụ án, cháu Thạch Mai H chưa tròn 07 tuổi, đang sống cùng anh P, phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ; quá trình anh P nuôi dưỡng con chung, chính quyền địa phương không phải can thiệp hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H; anh P có việc làm và có thu nhập đảm bảo cuộc sống, học tập của cháu H (Theo kết quả xác minh của Tòa án - BL 35). Như vậy, anh P đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, vì quyền lợi về mọi mặt và tránh sự xáo trộn nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, học tập của cháu H thì cần căn cứ Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình để giao cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu H. Do các đương sự không có yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề này khi có căn cứ và hợp pháp.

- Nguyên đơn tiếp tục khẳng định tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000 đồng theo điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Thị Ka M được ly hôn với anh Thạch P.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Mai H (Nam), sinh ngày 06/12/2012. Trong thời gian anh P nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

Không xem xét, giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng do không có yêu cầu. Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu H, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu có căn cứ hợp pháp.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Danh Thị Ka M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai số 0003957 ngày 17/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị Danh Thị Ka M có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Thạch P có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ