- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Lê Thị Thùy D với Võ Quang L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Thùy D và anh Võ Quang L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2019 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
2. Bà Võ Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019, về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXX-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị Thùy D, sinh năm 1995;
Địa chỉ cư trú: ấp PL, xã TP, huyện TS, tỉnh An Giang. (Có mặt)
2. Bị đơn: Võ Quang L, sinh năm 1992;
Địa chỉ cư trú: khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D trình bày: Vào năm 2013, chị và anh Võ Quang L cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTT (nay là thị trấn TTT), huyện HN, trước khi tiến tới hôn nhân có tìm hiểu nhau được 01 năm. Sau khi cưới vợ chồng anh chị sống bên gia đình anh Quang L được 03 năm rồi vợ chồng đi làm công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh. Chị và anh Quang L sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Quang L thường xuyên ghen tuông rồi nhậu về đánh chị, có lần anh Quang L cầm dao không cho chị vào phòng trọ. Đến cuối năm 2018, chị và anh Quang L mạnh ai về nhà người đó sinh sống từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng không còn sống chung không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng; tuy có một lần mẹ anh L và anh L đến nhà chị để bàn bạc hàn gắn nhưng không thành mà chỉ cự cãi nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Quang L.
Về việc nuôi con: Trong thời gian chung sống, chị và anh Võ Quang L có 01 con chung tên Võ Hoàng N, sinh ngày 10/02/2017, hiện nay cháu Hoàng N đang sống với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Quang L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Chị và anh Quang L chung sống không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Võ Quang L, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thùy D với anh Võ Quang L; về con chung: chị Lê Thị Thùy D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Hoàng N, sinh ngày 10/02/2017, anh Quang L không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không có yêu cầu, nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Võ Quang L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Thùy D và anh Võ Quang L là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh L, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của chị Thùy D tại phiên tòa hôm nay thì cuộc sống của chị và anh Quang L không hạnh phúc nguyên nhân là do anh Quang L thường xuyên ghen tuông rồi nhậu về đánh chị, có lần anh Quang L cầm dao không cho chị vào phòng trọ. Trong thời gian vợ chồng không còn sống chung không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng; tuy có một lần mẹ anh L và anh L đến nhà chị để bàn bạc hàn gắn nhưng không thành mà chỉ cự cãi nhau. Đối với anh Quang L thì Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, động viên cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh vẫn cố tình không đến và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Thùy D và anh Quang L hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Thùy D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Thị Thùy D ly hôn với anh Võ Quang L.
Về việc nuôi con: Trong thời gian chung sống, chị Thùy D và anh Quang L có 01 con chung tên Võ Hoàng N, sinh ngày 10/02/2017, hiện nay cháu Hoàng N đang sống với chị Thùy D. Nay ly hôn, chị Thùy D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Quang L phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Thùy D sinh cháu Hoàng N cũng như khi chị Thùy D và anh Quang L không còn sống chung thì cháu Hoàng N sống với chị Thùy D, ngoài ra hiện nay cháu Hoàng N chưa đủ 36 tháng tuổi (hiện nay cháu mới 28 tháng tuổi) vì vậy để ổn định cuộc sống của cháu, giao cháu Hoàng N cho chị Thùy D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và không buộc anh Quang L cấp dưỡng nuôi con do chị Thùy D không có yêu cầu.
Về chia tài sản: Do chị Thùy D trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Quang L không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Thùy D và anh Võ Quang L.
2. Về việc nuôi con:
2.1. Chị Lê Thị Thùy D được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 10/02/2017.
2.2. Anh Võ Quang L không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Thùy D chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004272 ngày 26/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND thị trấn TTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Lương Bằng |