- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HON"
- Tòa quyết gì? Không công nhận Chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Huỳnh Q T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày 22- 03-2019 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Trường Tam;
2. Bà Trần Thị Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD tham gia phiên tòa:
Ông Dương Nguyên Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GD, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Tổ 10, ấp RA, xã TĐ, huyện GD, tỉnh TN; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Q T, sinh năm: 1976; địa chỉ cư trú: Tổ 25, ấp ĐH, xã HT, huyện GD, tỉnh TN;
Tạm trú: Ấp RA, xã TĐ, huyện GD, tỉnh TN; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15-01-2019 và biên bản lấy lời khai ngày 06-3-2019, chị Nguyễn Thị Hồng G trình bày:
Chị và anh T chung sống với nhau từ tháng 11 năm 1997, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn và đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Nữ trang ngày cưới gồm 01 đôi bông tai và 01 sợi dây chuyền. Số nữ trang này không còn do hai vợ chồng đã bán. Sau khi kết hôn anh chị sống tại nhà cha mẹ anh T tại ấp ĐH, xã HT, huyện GD, tỉnh TN. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ. Đến năm 2003 vợ chồng ly thân. Nay chị xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Hữu Q, sinh ngày 01-8-1998. Hiện cháu Q đã trưởng thành và có khả năng lao động tự sinh sống được. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Chị không yêu cầu giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 19-02-2019, anh Huỳnh Q T trình bày: Anh và chị G chung sống với nhau từ năm 1998, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2003 vợ chồng ly thân, do chị G có mâu thuẩn với cha anh nên chị G bỏ nhà đi cho đến nay. Anh cũng không liên lạc với chị kêu chị về. Nay chị G yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý do còn thương vợ, anh yêu cầu đoàn tụ. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G thì về con chung có cháu Huỳnh Hữu Q, sinh ngày 01-8-1998 đã trưởng thành và có khả năng lao động tự sinh sống được, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung và nợ chung: Không có. Anh không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị G, bị đơn anh T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị không công nhận chị G và anh T là vợ chồng. Con chung tên Huỳnh Hữu Q, sinh ngày 01-8-1998 đã trưởng thành, có khả năng lao động tự sinh sống được. Chị G và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung và nợ chung: Anh chị khai không có, nên không giải quyết. Chị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Huỳnh Q T yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp chị G và anh T vắng mặt tại phiên tòa có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Huỳnh Q T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 không đăng ký kết hôn. Xét thấy chị G và anh T có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nhưng anh chị không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị G và anh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Hữu Q, sinh ngày 01-8-1998. Hiện cháu Q đã trưởng thành và có khả năng lao động tự sinh sống được. Chị G và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị khai không có, nên không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: Chị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 147, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Q hội ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không công nhận Chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Huỳnh Q T là vợ chồng.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Hữu Q, sinh ngày 01-8-1998. Cháu Q đã trưởng thành và có khả năng lao động tự sinh sống được. Chị G và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị G và anh T khai không có nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng G chịu 300.000 đồng án phí. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008663 ngày 15-01-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GD, chị G đã nộp đủ.
Chị G và anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND huyện GD; - CC THADS huyện GD; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ........................................... ............................................ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Bình THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Bình |