- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Trần Văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 16/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06/3/2019 “Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Ân
2. Bà Trần Ngọc Diệu
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Đang, Thư ký Toà án Về dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 560/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1985; Địa chỉ: ấp 3, xã T, huyện G, tỉnh B.
- Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm: 1976; Địa chỉ: ấp 3, xã Tân T, huyện G, tỉnh B.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/12/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và bị đơn là anh Trần Văn V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 08/11/2010. Vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính xảy ra mâu thuẫn là anh V đam mê cờ bạc đỏ đen, bỏ bê không quan tâm đến vợ con, tiêu hao tài sản tiền bạc của gia đình. Vợ chồng đã chia tay và chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ đầu năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị có yêu cầu ly hôn với anh V.
Trong quá trình chung sống chị và anh V có 01 con chung là cháu Trần Đăng Quang, sinh ngày 16/8/2017 hiện do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung, chị yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Trang 1
Về tài sản chung và nợ chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên hòa giải nhưng anh V đều vắng mặt không lý do.
Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 18 tháng 02 năm 2018, anh V cũng vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay nhưng anh V vắng mặt không lý do, chị L có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: anh Trần Văn V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh V.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 08/11/2010 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Vợ chồng anh V và chị L cùng chung sống với nhau ở ấp 3, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cải vã với nhau, thường hay bất hòa. Theo chị L thì nguyên nhân chính là do anh V đam mê cờ bạc đỏ đen, bỏ bê không quan tâm đến vợ con, tiêu hao tài sản tiền bạc của gia đình nên chị bỏ đi và sống ly thân với anh V vào đầu năm 2018 cho đến nay, không có thời gian đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy anh V và chị L đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2018, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, anh chị không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ như chồng. Do chị L không còn tình cảm vợ chồng với anh V nữa nên chị có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Tòa án đã tiến hành thông báo tổ chức phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Tuy nhiên, anh V đã bỏ mặc không tham gia. Mặt khác, trong thời gian ly thân anh V cũng không quan tâm chăm sóc chị L và con chung, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân hiện tại của anh chị để kéo dài đời sống chung mà anh đã bỏ mặc cho chị Lậm tự giải quyết. Tòa án đã động viên chị L trở về hàn gắn đoàn tụ nhưng chị L vẫn cương quyết yêu cầu xin ly hôn với anh V.
Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh V là phù hợp.
Về con chung: Chị L và anh V có 01 con chung là Trần Đăng Quang, sinh ngày 16/8/2017. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị L và anh V sống ly thân cho đến nay, chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đăng Quang, chị vẫn đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ, cháu Quang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định.
Trang 2
Mặt khác, cháu Đăng Quang chưa tròn 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và không nên làm xáo trộn về tâm lý của trẻ nên chấp nhận yêu cầu của chị L được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn Về và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị L, không trái với quy định pháp luật nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Trần Văn V.
2. Về con chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn V có 01 con chung là Trần Đăng Quang, sinh ngày 16/8/2017.
Giao con chung cho chị L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con (Do chị L không có yêu cầu).
Anh Trần Văn V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
Trang 3
đồng) theo biên lai thu số 0000079 ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; chị L đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày: Đối với nguyên đơn có mặt tại tòa thì kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt tại tòa thì kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã nơi cư trú của bị đơn; có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 4 | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Võ Thế Trang Đền |